
BÁO CÁO NHANH
Công tác phòng, chống thiên tai ngày 17/9/2026
I. TÌNH HÌNH THỜI TIẾT, THIÊN TAI
1. Tình hình mưa
- Mưa ngày (19h/16/9 - 19h/17/9): Khu vực Bắc Bộ có mưa to, lượng mưa phổ biến từ 50-120mm; riêng các tỉnh, thành phố Hà Nội, Phú Thọ, Ninh Bình và Thanh Hóa có mưa rất to phổ biến từ 100-200mm; một số trạm có lượng mưa lớn như: An Bình (Phú Thọ) 235mm; Đập Đáy (Hà Nội) 211mm; Hoài Đức (Hà Nội) 249mm; Nho Quan (Ninh Bình) 234mm; Gia Viễn (Ninh Bình) 230mm; Tĩnh Gia (Thanh Hóa) 354mm; Yên Định (Thanh Hóa) 290mm.
- Mưa đêm (19h/17/9 - 07h/18/9): Tỉnh Nghệ An cục bộ có mưa từ 50-100mm; Thanh Hóa có mưa 30-50mm; các nơi khác ở Bắc Bộ có mưa từ 10-30mm; các tỉnh từ Hà Tĩnh đến Lâm Đồng có mưa từ 30-60mm. Một số trạm mưa lớn như: Cửa Đạt (Thanh Hóa) 110mm, Mộc Sơn (Nghệ An) 124mm, Hòa Duyệt (Hà Tĩnh) 106mm, Ia Hrú (Gia Lai) 133mm.
- Mưa 03 ngày (19h/14/9 - 07h/18/9): Khu vực Bắc Bộ, Nghệ An có mưa lớn với tổng lượng mưa phổ biến từ 150-300mm; Thanh Hóa mưa từ 300-500mm; Phú Thọ từ 200-400mm; một số trạm có tổng lượng mưa lớn như: Tả Sí Láng (Lào Cai) 453mm, Cao Dương (Phú Thọ) 450mm, Tĩnh Gia (Thanh Hóa) 653mm, Cẩm Liên 1 (Thanh Hóa) 626mm, Ngọc Trà (Thanh Hóa) 529mm.
Dự báo: Ngày 18/9/2026, khu vực từ Thanh Hóa đến Hà Tĩnh có mưa vừa, mưa to phổ biến từ 20-50mm, cục bộ trên 80mm; khu vực Bắc Bộ có mưa từ 10-30mm, cục bộ có nơi mưa to trên 50mm. Từ đêm 18/9 đến ngày 19/9, khu vực từ Nghệ An đến Tp. Huế có mưa vừa, mưa to phổ biến từ 30-60mm, cục bộ trên 100mm. Cảnh báo nguy cơ mưa có cường độ lớn (>100mm/3h).
Cấp độ rủi ro thiên tai do mưa lớn, lốc, sét, mưa đá: Cấp 1.
2. Tin dự báo mưa dông, lốc xoáy và gió giật mạnh trên biển
Ngày và đêm 18/9, khu vực vịnh Bắc Bộ, vùng biển từ Lâm Đồng đến Cà Mau, Cà Mau đến An Giang, vịnh Thái Lan, khu vực Bắc Biển Đông (bao gồm đặc khu Hoàng Sa) và khu vực Nam Biển Đông (bao gồm đặc khu Trường Sa) có mưa rào và dông rải rác. Trong mưa dông có khả năng cao xảy ra lốc xoáy, gió giật mạnh cấp 7-8, sóng biển cao trên 2,0m.
3. Tin cảnh báo lũ trên các sông ở Bắc Bộ và Thanh Hóa
Lũ trên sông Bưởi (tỉnh Thanh Hóa), sông Hoàng Long, sông Đáy (tỉnh Ninh Bình) đang dao động ở mức đỉnh trên BĐ3; lũ trên các sông Mã, sông Lèn, sông Cầu Chày, sông Yên (tỉnh Thanh Hóa) đã đạt đỉnh và đang xuống nhưng còn trên mức BĐ3; lũ các sông Tích, Bùi (Hà Nội) đang lên chậm.
Mực nước lúc 07h ngày 18/9/2026 trên một số sông như sau:
- Sông Tích (Hà Nội) tại Kim Quan là 9,03m, trên BĐ3 0,63m;
- Sông Bùi (Hà Nội) tại Yên Duyệt là 7,64m, trên BĐ3 0,64m;
- Sông Hoàng Long (Ninh Bình) tại trạm Bến Đế là 4,90m, trên BĐ3 là 0,90m (đã đạt đỉnh 4,93m, lúc 3-4h ngày 18/9);
- Sông Đáy (Ninh Bình) tại trạm Phủ Lý là 4,92m, trên BĐ3 là 0,92m;
- Trên sông Bưởi (Thanh Hóa) tại trạm Thạch Quảng là 16,80m, trên BĐ3 là 0,80m (đã đạt đỉnh 17,28m, lúc 16-19h ngày 17/9); tại trạm Kim Tân 13,83m, trên BĐ3 là 1,83m (đạt đỉnh 13,84m, lúc 02-06h ngày 18/9);
- Trên sông Lèn (Thanh Hóa) tại trạm Cụ Thôn là 4,44m, trên BĐ3 là 0,94m (đã đạt đỉnh 4,74m, lúc 19-21h ngày 17/9);
- Trên sông Mã (Thanh Hóa) tại Giàng là 4,80m, dưới BĐ2 là 0,70m (đã đạt đỉnh 5,53m, lúc 15-16h ngày 17/9);
- Trên sông Cầu Chày (Thanh Hóa) tại Xuân Vinh là 10,67m, trên BĐ3 là 0,67m (đã đạt đỉnh 10,79m lúc 22h ngày 17/9);
- Trên sông Yên (Thanh Hóa) tại TV Chuối là 3,92m, trên BĐ3 là 0,42m (đã đạt đỉnh 4,32m, lúc 12-14h ngày 17/9).
Dự báo (trong 12 giờ tới): Lũ trên các sông Yên, sông Lèn, sông Cầu Chày, sông Mã (Thanh Hóa) tiếp tục xuống; sông Bưởi (Thanh Hóa), sông Đáy, sông Hoàng Long (Ninh Bình), sông Bùi, sông Tích (Hà Nội) biến đổi chậm.
II. TÌNH HÌNH HỒ CHỨA, ĐÊ ĐIỀU
1. Liên hồ chứa trên lưu vực sông Hồng
|
Tên hồ
|
Thời gian
|
Htl (m)
|
Hhl (m)
|
Qvào (m3/s)
|
Qra (m3/s)
|
MNDBT
(m)
|
|
Sơn La
|
7h
|
17/9
|
211,79
|
113,80
|
624
|
814
|
215
|
|
18/9
|
211,99
|
113,54
|
360
|
595
|
|
Hòa Bình
|
7h
|
17/9
|
112,16
|
7,90
|
2.877
|
395
|
117
|
|
18/9
|
113,17
|
8,10
|
3.350
|
569
|
|
Tuyên Quang
|
7h
|
17/9
|
116,72
|
47,22
|
217
|
0
|
120
|
|
18/9
|
116,91
|
47,12
|
110
|
0
|
|
Thác Bà
|
7h
|
17/9
|
55,29
|
22,65
|
460
|
142
|
58
|
|
18/9
|
55,39
|
22,55
|
390
|
142
|
2. Các hồ chứa thủy lợi và thủy điện khác
- Về hồ chứa thủy điện (các hồ vận hành điều tiết qua tràn với lưu lượng từ 100m3/s trở lên), cụ thể lưu lượng xả tràn/lưu lượng về hồ (m3/s): Khu vực Bắc Bộ có 02 hồ (Phiêng Côn: 148/210; Văn Chấn: 590/650); khu vực Bắc Trung Bộ có 11 hồ (Bá Thước 1: 930/1416; Bá Thước 2: 1147/1633; Bản Ang: 319/424; Chi Khê: 768/1178; Đồng Văn: 436/646; Hủa Na: 531/791; Khe Bố: 568/1056; Nậm Mô: 151/229; Trung Sơn: 345/762; Trung Xuân: 196/196; La Trọng: 111/111).
- Về hồ chứa thủy lợi: Khu vực Bắc Bộ có 2.498 hồ chứa; hiện đạt 72-100% dung tích thiết kế. Khu vực Bắc Trung Bộ có 2.325 hồ chứa; đạt 44-82% dung tích thiết kế; 07 hồ xả tràn và phát điện (Cửa Đạt xả 739 m3/s; Vực Mấu xả 552 m3/s; Sông Sào xả 140 m3/s; Đá Hàn xả 17 m3/s; Tả Trạch xả 80 m3/s, Thượng Sông Trí xả 5 m3/s; Bộc Nguyên xả 14 m3/s).
3. Tình hình đê điều
- Trên tuyến đê tả Đáy (Ninh Bình) đã xảy ra sự cố sạt mái đê phía sông đoạn K100+810 - K100+828, chiều dài cung sạt 18m, chiều cao cung sạt (0,5-1,8m).
- Tràn 1.400m đê, bờ bao sông Bùi tại các xã Xuân Mai, Kiều Phú (Tp. Hà Nội).
- 02 sự cố sạt mái đê phía sông đoạn K88+250-K88+313 và K88+343-K88+373 đê tả Đáy, phường Nguyễn Úy, tỉnh Ninh Bình: vị trí sạt sát mặt đê, tổng chiều dài các cung sạt 93m, chiều cao cung sạt (0,5-1,5)m.
- 01 sự cố sạt mái đê phía đồng tại K34+800-K34+840 đê Hữu Cầu Chày, xã Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa: vị trí sạt sát mặt đê, tổng chiều dài cung sạt 50m.
Các địa phương đã xử lý giờ đầu bằng biện pháp đóng cọc tre, đắp bao tải đất và trải bạt chống xói đối với các sự cố sạt mái đê và huy động lực lượng gia cố, chống tràn đê, bờ bao.
III. CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO, ỨNG PHÓ
- Ngày 16/9/2026, Ban Chỉ đạo PTDS quốc gia đã ban hành Công điện số 53/CĐ-BCĐ-BNNMT gửi các Bộ, ngành và UBND các tỉnh Phú Thọ, Ninh Bình, Thanh Hóa của về việc chủ động ứng phó với lũ trên các tuyến sông. Ngày 14/9/2026, Ban Chỉ đạo PTDS quốc gia đã có văn bản số 52/BCĐ-BNNMT gửi các Bộ, ngành, địa phương về việc chủ động ứng phó với mưa lớn, ngập lụt, lũ quét, sạt lở đất, lốc, sét, mưa đá.
- Ngày 16/9/2026 và 17/9/2026, Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai đã tổ chức đoàn công tác do Cục trưởng Nguyễn Thượng Hiền làm trưởng đoàn đi Phú Thọ, Ninh Bình, Thanh Hóa để chỉ đạo công tác ứng phó với mưa lũ, sạt lở đất, đảm bảo an toàn đê điều. Đêm 17/9/2026, Cục đã cử đoàn công tác phối hợp với tỉnh Ninh Bình đảm bảo an toàn các tuyến đê sông Đáy, sông Hoàng Long. Ngày 16/9/2026, Cục đã ban hành văn bản số 1759/ĐĐ-QLĐĐ gửi Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh Ninh Bình, Thanh Hóa về việc khẩn trương triển khai công tác đảm bảo an toàn đê điều ứng phó với lũ trên các sông.
- Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai tổ chức trực ban nghiêm túc 24/24h, theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết, thiên tai, đê điều; chuyển các thông tin dự báo, cảnh báo đến các địa phương để kịp thời tham mưu công tác chỉ đạo, điều hành, ứng phó thiên tai.
- Các địa phương đã nhận và triển khai các Công điện, văn bản chỉ đạo của Ban Chỉ đạo PTDS quốc gia về ứng phó mưa lớn, lũ; tổ chức trực ban; chủ động theo dõi thời tiết, thông tin dự báo, cảnh báo; tổ chức phân luồng giao thông khu vực ngập sâu, sạt lở; triển khai phòng, chống lũ, đảm bảo an toàn đê điều; vận hành các trạm bơm tiêu, các cống tiêu úng, bảo vệ sản xuất; hỗ trợ di dời, sơ tán 2.345 hộ/8.667 người đến nơi an toàn (Ninh Bình 305 hộ/994 người; Hà Nội 86 hộ/299 nguời; Lào Cai 09 hộ/34 người; Phú Thọ 339 hộ/1.424 người; Thanh Hoá 1.606 hộ/5.916 người).
IV. TÌNH HÌNH THIỆT HẠI
Theo báo cáo từ Văn phòng Ban Chỉ huy PTDS các tỉnh, thành phố Lào Cai, Phú Thọ, Hà Nội, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, tính đến 07h00 ngày 18/9/2026, mưa lớn, ngập lụt đã gây thiệt hại như sau:
- Về người: 03 người chết do sạt lở đất sáng ngày 17/9 (xã Đà Bắc, tỉnh Phú Thọ).
- Về nhà: 04 nhà sập (Thanh Hóa); 32 nhà hư hỏng (Ninh Bình 01, Nghệ An 04, Lào Cai 10, Phú Thọ 16, Thanh Hóa 01); 19.183 nhà bị ngập (Ninh Bình 4.787; Nghệ An 749; Hà Nội 2.644; Phú Thọ 151; Thanh Hoá 10.852), hiện các tỉnh Nghệ An, Phú Thọ cơ bản nước đã rút.
- Về nông nghiệp: 23.992ha lúa, hoa màu, rau màu bị ngập, thiệt hại (Ninh Bình 12.121ha; Nghệ An 1.287ha; Hà Nội 4.434ha; Thanh Hoá 6.150ha); 2.616ha cây trồng khác bị ngập, thiệt hại (Hà Nội 1.371ha; Thanh Hoá 1.245ha).
- Về chăn nuôi: 199 con gia súc (Nghệ An 195; Lào Cai 01; Thanh Hoá 03; và 12.158 con gia cầm (Nghệ An 11.958; Thanh Hoá 200) bị cuốn trôi, thiệt hại.
- Về thuỷ sản: 1.774,62 ha nuôi thuỷ sản bị ngập, thiệt hại (Hà Nội 208ha; Phú Thọ 1,62ha; Thanh Hoá 1.565ha).
- Về thuỷ lợi: 10.913m bờ bao bị sạt, hư hỏng (Hà Nội 10.895; Ninh Bình 18); 7.039m kênh mương, bờ sông, suối bị sạt lở, hư hỏng (Hà Nội 5.070m; Phú Thọ 1.889m; Thanh Hoá 80).
- Về giáo dục: 16 điểm trường bị ngập, ảnh hưởng (Ninh Bình 07; Hà Nội 06; Phú Thọ 01).
- Về giao thông:
+ 11 điểm sạt lở gây ách tắc trên các tuyến quốc lộ và tỉnh lộ (trong đó có 07 điểm trên các tuyến QL15C: 04 điểm; QL217: 03 điểm). Các địa phương đang xử lý, khắc phục đảm bảo an toàn giao thông.
+ 30 điểm ngập gây ách tắc giao thông trên các tuyến quốc lộ và tỉnh lộ (trong đó 05 điểm trên các tuyến quốc lộ tại Thanh Hóa: QL15: 01, QL47: 01, QL217B: 03); địa phương đã tổ chức phân luồng đảm bảo an toàn giao thông.
+ Tuyến đường sắt Hà Nội - Tp. Hồ Chí Minh bị ngập sâu khoảng 1m tại đoạn Bỉm Sơn - Đò Lèn, phải chuyển tải hành khách bằng đường bộ qua khu vực ngập nước.
Các địa phương đang tiếp tục rà soát, thống kê thiệt hại.
V. CÁC CÔNG VIỆC CẦN TRIỂN KHAI TIẾP THEO
1. Các Bộ ngành, địa phương tiếp tục triển khai chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia tại các Công điện, văn bản chỉ đạo về chủ động ứng phó với mưa lũ.
2. Các tỉnh, thành phố khẩn trương khắc phục hậu quả thiên tai; theo dõi chặt chẽ mực nước các sông ở Bắc Bộ, Thanh Hóa, tăng cường cảnh báo đến chính quyền cơ sở và người dân về diễn biến lũ, khu vực ngập sâu, chia cắt; kiểm soát người và phương tiện qua lại tại các ngầm tràn, cầu tràn, khu vực ngập sâu, nước chảy xiết; tổ chức di dời, sơ tán người dân khu vực ven sông, suối, khu vực thấp trũng, có nguy cơ xảy ra ngập lụt sâu, lũ quét, sạt lở đất đến nơi an toàn; tổ chức tuần tra canh gác, triển khai phương án phòng, chống lũ, đảm bảo an toàn đê điều.
3. Tổ chức trực ban nghiêm túc, thường xuyên báo cáo về Bộ Nông nghiệp và Môi trường (qua Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai)./.
Tải file đính kèm