
BÁO CÁO NHANH
Công tác phòng, chống thiên tai ngày 02/10/2025
I. TÌNH HÌNH THIÊN TAI
1. Tin bão gần biển Đông (Cơn bão Matmo)
Hồi 01 giờ ngày 03/10, vị trí tâm bão ở vào khoảng 15,8 độ Vĩ Bắc; 123,7 độ Kinh Đông, trên vùng biển phía Đông đảo Lu-Dông (Phi-líp-pin). Sức gió mạnh nhất vùng gần tâm bão mạnh cấp 9 (75-88km/giờ), giật cấp 11. Di chuyển theo hướng Tây Tây Bắc, tốc độ khoảng 25km/h.
Dự báo:
- Đến 01h00 ngày 04/10: Vị trí tâm bão ở 17,7 độ Vĩ Bắc; 118,5 độ kinh Đông, trên vùng biển phía Đông khu vực Bắc biển Đông; sức gió cấp 10, giật cấp 12; di chuyển theo hướng Tây Tây Bắc, tốc độ 25km/h, đi vào biển Đông và có khả năng mạnh thêm. Vùng nguy hiểm: Vĩ tuyến 16,0N-20,5N; phía Đông kinh tuyến 116,5E; RRTT cấp 3: vùng biển phía Đông khu vực Bắc biển Đông.
- Đến 01h00 ngày 05/10: Vị trí tâm bão ở 19,2-N-113,3E; trên vùng biển phía Tây Bắc khu vực Bắc biển Đông, cách bán đảo Lôi Châu (Trung Quốc) khoảng 340km về phía Đông Đông Nam; sức gió cấp 12, giật cấp 15; di chuyển theo hướng Tây Tây Bắc, tốc độ 20-25km/h, tiếp tục có khả năng mạnh thêm. Vùng nguy hiểm: Vĩ tuyến 16,5-21,5N; phía Đông kinh tuyến 111,0E; RRTT cấp 3: vùng biển phía Bắc khu vực Bắc biển Đông.
- Đến 01h00 ngày 06/10: Vị trí tâm bão ở 21,1N-108,8E; trên khu vực Bắc vịnh Bắc Bộ; sức gió cấp 11, giật cấp 14; di chuyển theo hướng Tây Tây Bắc, tốc độ 20-25km/h. Vùng nguy hiểm: Vĩ tuyến 17,0N; Kinh tuyến 107,0-115,5E; RRTT cấp 3: vùng biển phía Tây Bắc khu vực Bắc biển Đông và khu vực Bắc Vịnh Bắc Bộ.
2. Về mưa
- Mưa ngày (19h/01/10-19h/02/10): Các tỉnh Tuyên Quang, Nghệ An, Hà Tĩnh, An Giang và TP. Hồ Chí Minh có mưa vừa, mưa to, phổ biến 20-40mm, một số trạm có lượng mưa lớn như: Phương Độ (Tuyên Quang) 71mm, Đôn Phục 1 (Nghệ An) 85mm, Sơn Lâm (Hà Tĩnh) 61mm, Hồ Đá Bàng (TP. Hồ Chí Minh) 70mm, Thới Bình (An Giang) 75mm.
- Mưa đêm (19h/02/10-07h/03/10): Khu vực Nam Bộ và các tỉnh phía Tây Bắc Bộ có mưa vừa, mưa to lượng mưa phổ biến 20-40mm; một số trạm có lượng mưa lớn hơn: Phước Tân (Đồng Nai) 100mm, Minh Lập (Đồng Nai) 74mm, Đức Hòa (Tây Ninh) 46mm, An Phú (Hồ Chí Minh) 46mm, Thuận Hưng (Cần Thơ) 45mm.
- Mưa 3 ngày (19h/29/9-19h/02/10): Các tỉnh khu vực miền núi phía Bắc và từ Thanh Hóa - Huế có mưa 100-300mm, một số trạm mưa lớn như: Cẩm Liên 2 (Thanh Hóa) 374mm, Kim Anh (Hà Nội) 327mm, Phương Độ (Tuyên Quang) 368mm, Hồ Thầu 1 (Tuyên Quang) 330mm.
3. Tình hình lũ
Mưa lớn đã gây đợt lũ lớn các sông Bắc Bộ đến Hà Tĩnh ở mức BĐ2 đến BĐ3, có nơi trên BĐ3; riêng sông Lô tại Hà Giang là 106,47m, trên BĐ3 là 3,47m, vượt lũ lịch sử năm 1969 là 0,90m; mực nước sông Bưởi tại Kim Tân (Thanh Hóa) là 14,33m, trên BĐ3 là 2,33m và vượt lũ lịch sử 0,08m.
Mực nước cập nhật đến lúc 05h/03/10 trên một số sông chính như sau:
- Tuyên Quang: trên sông Lô tại trạm Tuyên Quang 25,78m (lúc 01h) dưới BĐ3 0,22m, đang xuống; tại trạm Hà Giang 101,41m (lúc 1h) trên BĐ2 0,41m, đang xuống; trên sông Gâm tại trạm Chiêm Hóa 39,59m (lúc 1h) trên BĐ3 1,59m, đang xuống; tại trạm Bắc Mê 121,89m (lúc 5h) trên BĐ1 0,89m, đang xuống (đạt đỉnh 127,2m lúc 01h/01/10).
- Lào Cai (lúc 1h): trên sông Thao tại Lào Cai 78,88m, dưới BĐ1, đang xuống (đạt đỉnh 83.44m lúc 05h/30/9); tại Yên Bái là 28,61m dưới BĐ1, đang xuống (đạt đỉnh 34,39m lúc 11h/30/9).
- Bắc Ninh: trên sông Thương tại Cầu Sơn 14,99m (lúc 1h), trên BĐ1 0,99m, đang xuống; sông Cầu tại Đáp Cầu 6,46m (lúc 4h), trên BĐ3 0,16m, đang xuống, tại Phúc Lộc Phương 8,05m (lúc 4h) trên BĐ3 0,05m, đang xuống.
- Ninh Bình (lúc 4h): trên sông Hoàng Long tại Bến Đế 3,84m, ở dưới mức BĐ3 0,16m, đang xuống (đạt đỉnh 4,88m lúc 01h/01/10); tại Gián Khẩu 3,72m, trên BĐ3 0,02m, đang xuống (đạt đỉnh 4,16m lúc 19h/01/10).
- Thanh Hóa: trên sông Chu tại Bái Thượng 14,06m (lúc 1h) dưới BĐ1 đang xuống (đạt đỉnh 18,57m lúc 1h/30/9), tại Xuân Khánh 5,79m (lúc 1h) dưới BĐ1 đang xuống (đạt đỉnh 10,78m lúc 2h/30/9); trên sông Yên tại Chuối 2,63m (lúc 1h), dưới BĐ2 0,17m, đang xuống (đạt đỉnh 4,85m lúc 1h/30/9); trên sông Mã tại Giàng 3,51m (lúc 1h), dưới BĐ1, đang xuống (đạt đỉnh 6,97m lúc 9h/30/9); sông Lèn tại Cụ Thôn 3,35m (lúc 1h), dưới BĐ3 0,15m, đang xuống (đạt đỉnh 5,63m lúc 15h/30/9); sông Bưởi tại Kim Tân là 12,43m (lúc 6h), trên BĐ3 là 0,43m (đạt đỉnh 14,33m lúc 6h/01/10, vượt lũ lịch sử 0,08m), đang xuống; tại Thạch Quảng 14,61m (lúc 1h), trên BĐ1 0,61m (đã đạt đỉnh 17,93m lúc 15h/30/9), đang xuống.
- Nghệ An (lúc 4h): trên sông Cả tại Mường Xén 138,7m trên BĐ1 0,70m (đạt đỉnh 142,11m lúc 8h/30/9) đang xuống, tại Con Cuông 27,89m dưới BĐ1, đang xuống (đạt đỉnh 31,11m lúc 1h/30/9), tại Chợ Tràng 4,49m trên BĐ2 0,49m đang xuống, sông Lam tại Yên Thượng 9,28m trên BĐ3 0,28m, đang xuống.
- Hà Tĩnh (lúc 4h): trên sông Ngàn Phố tại Sơn Diệm 6,22m, dưới BĐ1, (đạt đỉnh 11,52m lúc 1h/30/9), đang xuống; sông Ngàn Sâu tại Chu Lễ 7,65m, dưới BĐ1, đang xuống (đạt đỉnh 13,05m lúc 1h/30/9); sông La tại Linh Cảm 4,75m, trên BĐ1 0,25m, đang xuống chậm.
Dự báo: lũ trên sông Cầu tiếp tục xuống và ở dưới mức BĐ3; trên sông Lô, sông Thương tiếp tục xuống và ở trên mức BĐ2; trên sông Thái Bình và hạ lưu sông Cả sẽ xuống chậm và ở dưới mức BĐ2.
II. TÌNH HÌNH HỒ CHỨA, ĐÊ ĐIỀU
1. Tình hình hồ chứa
a) Liên hồ chứa trên lưu vực sông Hồng
|
Tên hồ
|
Thời gian
|
Htl (m)
|
Hhl (m)
|
Qvào (m3/s)
|
Qra (m3/s)
|
MNDBT (m)
|
|
Sơn La
|
7h
|
02/10
|
215,67
|
114,99
|
1.322
|
700
|
215
|
|
03/10
|
215,97
|
117,66
|
2.705
|
2.406
|
|
Hòa Bình
|
7h
|
02/10
|
115,07
|
13,48
|
740
|
2.398
|
117
|
|
03/10
|
115,31
|
11,90
|
1.520
|
955
|
|
Tuyên Quang
|
7h
|
02/10
|
119,24
|
60,25
|
3.322
|
4.392
|
120
|
|
03/10
|
118,26
|
57,12
|
2.245
|
3.100
|
|
Thác Bà
|
7h
|
02/10
|
57,59
|
28,71
|
1.150
|
2.492
|
58
|
|
03/10
|
57,51
|
25,40
|
865
|
960
|
Hồ thủy điện Tuyên Quang mở 04 cửa xả đáy và hồ thủy điện Thác Bà mở 02 cửa xả mặt, hồ thủy điện Sơn La mở 01 cửa xả đáy lúc 8h00 ngày 03/10.
b) Hồ chứa thủy lợi
- Khu vực Bắc Bộ: Có 2.495 hồ chứa, dung tích trữ trung bình đạt 68-98% dung tích thiết kế. Hiện có 137 hồ hư hỏng; 52 hồ đang sửa chữa, nâng cấp, xây dựng mới (Tuyên Quang 17, Lai Châu 01, Cao Bằng 03, Điện Biên 3, Lào Cai 4, Thái Nguyên 11, Lạng Sơn 3, Phú Thọ 6, Bắc Ninh 2, Ninh Bình 2).
- Khu vực Bắc Trung Bộ: Tổng có 2.323 hồ, dung tích trữ trung bình đạt từ 76% - 99% dung tích thiết kế. Hiện có 132 hồ hư hỏng, 65 hồ đang sửa chữa nâng cấp (Thanh Hoá 33, Nghệ An 7, Hà Tĩnh 4, Quảng Trị 18, TP. Huế 3).
c) Hồ chứa thuỷ điện
- Khu vực Bắc Bộ: Có 30 hồ chứa vận hành điều tiết qua tràn với lưu lượng từ 100 m3/s trở lên, cụ thể lưu lượng xả tràn/lưu lượng về hồ (m3/s): Bắc Hà: 329/511; Bắc Mê: 126/1440; Bảo Lâm 3: 522/610; Bảo Nhai Bậc 1: 139/408; Bảo Nhai Bậc 2: 134/407; Chiêm Hóa: 3150/3150; Nậm Lúc: 509/730; Nho Quế 1: 449/560; Nho Quế 2: 494/578; Pa Ke: 101/197; Phiêng Con: 99/119; Phúc Long: 336/604; Sập Việt: 112/146; Sông Chảy 3: 121/143; Sông Chảy 5: 102/152; Sông Chảy 6: 190/249; Sông Lô 2: 2473/2500; Sông lô 4: 2439/2439; Sông Lô 6: 3283/3283; Sông Lô 7: 3481/3481; Sông Lô 8B: 3714/3714; Sông Miện: 330/357; Sông Miện 5A: 778/817; Thác Bà: 670/888; Thác Bà 2: 950/960; Thái An: 549/618; Thuận Hòa: 531/580; Tuyên Quang: 2450/2460; Văn Chấn: 230/290; Vĩnh Hà: 305/514.
- Khu vực Bắc Trung Bộ: Có 11 hồ chứa vận hành điều tiết qua tràn với lưu lượng từ 100 m3/s trở lên, cụ thể lưu lượng xả tràn/lưu lượng về hồ (m3/s): Bá Thước 1: 498/922; Bá Thước 2: 651/1266; Bản Ang: 356/406; Bản Vẽ: 367/834; Chi Khê: 1185/1587; Đồng Văn: 633/833; Hủa Na: 876/1032; Khe Bố: 1009/1497; Nậm Mô: 249/282; Nậm Nơn: 382/710; Trung Sơn: 304/716.
2. Tình hình đê điều
a) Đê biển, đê cửa sông các tỉnh từ Quảng Ninh đến Tp Huế:
- Trên các tuyến đê biển, đê cửa sông các tỉnh từ Quảng Ninh đến Huế có 62 vị trí trọng điểm đê điều xung yếu (Quảng Ninh: 02, Hải Phòng: 08, Hưng Yên: 09, Ninh Bình: 09, Thanh Hóa: 01, Hà Tĩnh: 15; Quảng Trị: 14; Huế: 04); còn 05 công trình đê, kè đang thi công (Hải Phòng: 02; Hưng Yên: 01; Ninh Bình: 01; Huế: 01).
Các tuyến đê biển hiện được thiết kế chống với bão cấp 9-10, triều 5%; nguy cơ cao bị mất an toàn khi bão mạnh cấp 12, giật cấp 15 đổ bộ khi triều cường (vượt mức thiết kế).
- Các địa phương cần lưu ý gia cố, đảm bảo an toàn đối với các vị trí trọng điểm đê điều xung yếu, đã bị xảy ra sự cố do bão số 10 và các tuyến đê trực diện biển, cao trình đê thấp như: Đoạn K10-K15 đê Hà Nam trực diện biển, bãi hẹp (Quảng Ninh); đê, kè Nam Hải (bị sụt sạt, hư hỏng mái đê, kè) thuộc tuyến đê biển II (TP Hải Phòng); đê kè Đông Minh, đê biển 6 bị hư hỏng, lún võng mái đê (tỉnh Hưng Yên); đoạn đê biển Hải Thịnh 3 thuộc đê biển Hải Hậu đã bị sạt, sập mái đê tại K25+570 do bão số 10, các tuyến đê biển Cồn Tròn, Hải Thịnh, kè Thịnh Long (tỉnh Ninh Bình) thường xuyên bị sạt lở, hư hỏng do bão, triều; đê biển Quảng Nham (huyện Quảng Xương cũ), đê biển Hải Bình (huyện Tĩnh Gia cũ); đê biển Bãi Ngang, đê Quỳnh Long đã bị sự cố sụt, sạt mái, thân đê do bão số 10 và các tuyến đê biển Diễn Thành, đê Quỳnh Thọ, đê Long - Thuận trực diện biển, xung yếu (Nghệ An); đê tả Nghèn, đê kè Cẩm Nhượng, đê Hội Thống thường xuyên bị sạt lở do bão, triều (Hà Tĩnh), đê biển Vĩnh Thái, đê cửa sông tả Bến Hải (Quảng Trị);… và các công trình đê, kè đang thi công.
b) Sự cố đê điều do bão số 10 và mưa lũ:
Do ảnh hưởng của bão số 10 và mưa lũ sau bão, đã xảy ra 45 sự cố đê điều, cụ thể: Bắc Ninh (02 sự cố), Hà Nội (01 sự cố), Ninh Bình (15 sự cố), Thanh Hóa (15 sự cố), Nghệ An (04 sự cố), Hà Tĩnh (04 sự cố) và Quảng Trị (02 sự cố); tăng 18 sự cố (Phú Thọ: 02, Ninh Bình: 14, Thanh Hóa: 02) so với báo cáo ngày 01/10.
Các địa phương đã xử lý giờ đầu; cần có biện pháp tiếp tục gia cố, đảm bảo an toàn để ứng phó với bão Matmo và mưa lũ sau bão.
III. CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO ỨNG PHÓ, KHẮC PHỤC HẬU QUẢ
- Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các Công điện số 176/CĐ-TTg, số 178/CĐ-TTg, 181/CĐ-TTg, 182/CĐ-TTg, 183/CĐ-TTg và Công điện số 185/CĐ-TTg ngày 02/10/2025 về việc khẩn trương khắc phục hậu quả bão số 10 và mưa lũ và thống kê thiệt hại.
- Ngày 02/10/2025, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã ban hành Quyết định số 2171/QĐ-TTg ngày 02/10/2025 hỗ trợ 2.524 tỷ đồng từ nguồn dự phòng ngân sách trung ương năm 2025 cho 15 tỉnh/thành phố để hỗ trợ dân sinh, khắc phục công trình đê điều, hồ chứa thủy lợi, công trình phòng, chống thiên tai, cơ sở hạ tầng thiết yếu, bố trí ổn định dân cư vùng thiên tai cấp bách do ảnh hưởng của cơn bão số 10 và các đợt thiên tai khác từ đầu năm 2025 trong đó: Tuyên Quang 200 tỷ đồng, Cao Bằng 195 tỷ đồng, Lạng Sơn 20 tỷ đồng, Lào Cai 200 tỷ đồng, Thái Nguyên 20 tỷ đồng, Phú Thọ 20 tỷ đồng, Sơn La 200 tỷ đồng, Lai Châu 24 tỷ đồng, Điện Biên 90 tỷ đồng, Ninh Bình 20 tỷ đồng, Thanh Hóa 200 tỷ đồng, Nghệ An 500 tỷ đồng, Hà Tĩnh 500 tỷ đồng, Quảng Trị 200 tỷ đồng, Huế 135 tỷ đồng.
- Ngày 30/9/2025, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã thăm hỏi thân nhân người dân bị nạn tại Ninh Binh và kiểm tra công tác khắc phục hậu quả tại khu vực kè biển Hải Thịnh 3; Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng Trần Cẩm Tú thăm hỏi động viên nhân dân tỉnh Thanh Hóa khắc phục hậu quả bão số 10.
- Ngày 01-02/10/2025, Phó Thủ tướng Chính phủ Mai Văn Chính đã kiểm tra công tác khắc phục hậu quả mưa lũ và thăm hỏi người dân bị thiệt hại tại tỉnh Tuyên Quang.
- Ngày 01/10/2025, Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia đã ban hành văn bản số 11/BCĐ-BNNMT gửi UBND các tỉnh/thành phố ven biển từ Quảng Ninh đến Lâm Đồng về việc chủ động ứng phó với ATNĐ gần Biển Đông.
- Ngày 02/10/2025, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành các Công điện số 7405/CĐ-BNNMT, 7436/CĐ-BNNMT về việc đóng cửa xả đáy hồ thủy điện Tuyên Quang và các văn bản số 7406/BNNMT-ĐĐ, 7437/BNNMT-ĐĐ về việc đảm bảo an toàn hạ du khi vận hành hồ thủy điện Tuyên Quang.
- Ngày 30/9/2025, Ban Chỉ đạo Phòng Thủ dân sự Quốc gia đã ban hành công văn số 10/BCĐ-BNNMT về việc vận hành hồ thủy điện Tuyên Quang đảm bảo an toàn công trình và hạ du.
- Ngày 01/10/2025, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành văn bản số 7368/BNNMT-ĐĐ về việc đảm bảo an toàn đê điều, ứng phó với lũ trên các tuyến sông.
- Tổng công ty Điện lực miền Bắc huy động hơn 2.200 người hỗ trợ khắc phục thiệt hại tại Hà Tĩnh, Nghệ An và Thanh Hóa. Tổng công ty Điện lực miền Trung huy động hơn 300 người hỗ trợ khắc phục thiệt hại tại Hà Tĩnh, Quảng Trị. Hiện đã khôi phục điện cho 2.243.119 KH, hiện còn 468.531 khách hàng vẫn đang bị mất điện đang tiếp tục khôi phục (Thanh Hóa 28.664, Nghệ An 296.837KH, Hà Tĩnh 138.235KH, Quảng Trị 4.795KH).
- Ngày 30/9 - 01/10, thông qua Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các Tổ chức Samaritan’s Purse, tổ chức Di cư Quốc tế (IOM) và tổ chức Habitat for Humanity Việt Nam sẽ cung cấp hàng hoá hỗ trợ cho tỉnh Hà Tĩnh với tổng giá trị hàng hoá là 3,64 tỷ đồng.
- Ngày 02/10, Văn phòng Trung ương Đảng và Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam tổ chức phát động ủng hộ đồng bào bị thiệt hại do cơn bão số 10 gây ra.
- Các địa phương tiếp tục huy động lực lượng tìm kiếm người mất tích, cứu chữa người bị thương; sửa chữa nhà cửa bị tốc mái, hư hại do bão, lũ; bố trí nơi ở tạm, hỗ trợ lương thực, nước uống, nhu yếu phẩm cho những hộ dân bị mất nhà cửa, khắc phục, sửa chữa các cơ sở giáo dục, y tế, điện, viễn thông, đê điều, thủy lợi, khắc phục các tuyến đường bị ách tắc, sạt lở; xử lý dọn dẹp chướng ngại vật, vệ sinh đường xá, phân luồng bảo đảm hoạt động giao thông.
- Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai tổ chức trực ban nghiêm túc 24/24h, theo dõi chặt chẽ diễn biến bão, mưa lũ.
IV. THIỆT HẠI DO THIÊN TAI
Theo báo cáo của các tỉnh, thành phố Lào Cai, Sơn La, Phú Thọ, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Hà Nội, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hưng Yên, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, tính đến 06h00 ngày 03/10, bão số 10 và mưa lũ, sạt lở, giông lốc đã gây thiệt hại như sau:
- Về người: 65 người chết, mất tích.
+ 51 người chết (Lào Cai 07 người do lũ và sạt lở đất; Cao Bằng 06 người do lũ và sạt lở đất; Tuyên Quang 04 người do sạt lở đất; Sơn La 02 người do sạt lở đất; Lạng Sơn 02 người do sạt lở đất và lũ cuốn; Thái Nguyên 03 người do lũ; Hưng Yên 02 người do giông, lốc; Ninh Bình 09 người do giông, lốc; Thanh Hóa 05 người do cây đổ, sập nhà, lật thuyền; Nghệ An 04 người bị đuối nước; Hà Tĩnh 01 người bị ngã khi sửa nhà; Quảng Trị: 04 người trên tàu BV92754 tại Cửa Gianh; Huế 01 người bị nước cuốn trôi; Đà Nẵng 01 người do lũ cuốn);
+ 14 người mất tích (Lào Cai 03 người bị lũ cuốn và sạt lở; Tuyên Quang 03 người do sạt lở đất; Quảng Trị: 08 người trên 02 tàu tại Cửa Việt, Cửa Gianh và người bị lũ cuốn);
+ 164 người bị thương (Lào Cai 10, Cao Bằng 03, Thái Nguyên 02, Quảng Ninh 09, Hải Phòng 09, Hưng Yên 17, Ninh Bình 61, Thanh Hóa 06, Nghệ An 14, Hà Tĩnh 17, Quảng Trị 15, Huế 01).
- Về nhà:
+ 349 nhà sập, đổ (Lào Cai 30; Sơn La 04; Tuyên Quang 33; Lạng Sơn 03; Cao Bằng 05; Ninh Bình 101; Thanh Hóa 93; Nghệ An 74; Quảng Trị 06);
+ 172.104 nhà hư hỏng, tốc mái (Lào Cai 867 nhà, Sơn La 168 nhà, Phú Thọ 2.167 nhà, Tuyên Quang 680 nhà, Lạng Sơn 191 nhà, Cao Bằng 387 nhà, Thái Nguyên 326 nhà, Bắc Ninh 02 nhà, Quảng Ninh 21 nhà, Hải Phòng 235 nhà, Hưng Yên 379 nhà, Ninh Bình 3.186 nhà, Thanh Hóa 1.953 nhà, Nghệ An 62.745 nhà, Hà Tĩnh 95.310 nhà, Quảng Trị 3.396 nhà, Huế 91 nhà);
+ 65.820 nhà ngập (Lào Cai 8.888, Sơn La 431, Tuyên Quang 6.321, Lạng Sơn 250, Cao Bằng 4.784, Thái Nguyên 238, Hà Nội 1.784, Ninh Bình 6.430, Thanh Hóa 14.404, Nghệ An 16.997, Hà Tĩnh 5.275, Quảng Trị 18). Hiện nay nước đang rút và các địa phương tiếp tục thống kê.
- Về nông nghiệp, lâm nghiệp: 88.999ha lúa, hoa màu, cây trồng khác bị thiệt hại (Lào Cai 4.123ha, Sơn La 646ha, Phú Thọ 7.646ha, Tuyên Quang 3.774ha, Lạng Sơn 604ha, Cao Bằng 6.528ha, Thái Nguyên 2.254ha, Bắc Ninh 1.675ha, Hải Phòng 947ha, Hà Nội 2.742ha, Hưng Yên 870ha, Ninh Bình 483ha, Thanh Hóa 15.296ha, Nghệ An 27.731ha, Hà Tĩnh 1.303ha, Quảng Trị 8.418ha, Đà Nẵng 37ha); 50.268 ha rừng.
- Về chăn nuôi: 2.265 con gia súc, 519.713 con gia cầm bị chết, cuốn trôi.
- Thủy sản: 17.002 ha thủy sản bị thiệt hại (Lào Cai 103ha, Sơn La 16ha, Phú Thọ 2.094ha, Tuyên Quang 285ha, Lạng Sơn 03ha, Thái Nguyên 04ha, Bắc Ninh 90ha, Hưng Yên 50ha, Ninh Bình 242ha, Thanh Hóa 4.102ha, Nghệ An 8.762ha, Hà Tĩnh 1.045ha, Quảng Trị 205ha, Đà Nẵng 01ha).
- Về thủy lợi: 58.361m kênh mương bị sạt lở, hư hỏng; 203 công trình thủy lợi bị hư hỏng
- Về giáo dục: 1.486 điểm trường bị ảnh hưởng, thiệt hại (Lào Cai 39, Sơn La 21, Phú Thọ 38, Tuyên Quang 45, Lạng Sơn 03, Cao Bằng 18, Thái Nguyên 26, Quảng Ninh 01, Hà Nội 12, Hưng Yên 01, Ninh Bình 06, Thanh Hóa 205, Nghệ An 377, Hà Tĩnh 643, Quảng Trị 39, Huế 12).
- Ngập lụt, sạt lở, ách tắc giao thông tại 7.573 điểm trên các tuyến đường tại các tỉnh Lào Cai, Sơn La, Phú Thọ, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hà Nội, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị. Hiện các địa phương huy động máy móc, thiết bị để khắc phục và tiếp tục thống kê các điểm sạt lở, ngập lụt.
- Sạt lở 33.176m kè, bờ sông, bờ biển (Tuyên Quang 7.017m, Thanh Hóa 410m, Nghệ An 2.129m, Quảng Trị 3.500m, Huế 15.900m).
- Về điện lực: 8.827 cột điện bị gãy, đổ (tập trung tại Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh); các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị có gần 2,7 triệu KH bị mất điện; đã khôi phục điện cho 2.243.119 KH, hiện còn 468.531 khách hàng vẫn đang bị mất điện đang tiếp tục khôi phục (Thanh Hóa 28.664, Nghệ An 296.837KH, Hà Tĩnh 138.235KH, Quảng Trị 4.795KH).
- Viễn Thông: mạng truyền số liệu chuyên dùng cấp 2 (từ tỉnh đến xã) mất kết nối do mất điện 268/722; mạng công cộng 1.103/8.879 trạm BTS mất liên lạc; thông tin liên lạc đáp ứng công tác của chính quyền địa phương cấp xã nhưng chất lượng không tốt như ngày thường.
- Về cây xanh: 83.159 cây xanh bị gãy đổ (tập trung ở Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Trị).
Tổng thiệt hại về kinh tế sơ bộ tại một số tỉnh là 15.864 tỷ đồng (Lào Cai 2.750 tỷ đồng, Sơn La 528 tỷ đồng, Phú Thọ 150 tỷ đồng, Tuyên Quang 3.000 tỷ đồng, Cao Bằng 750 tỷ đồng, Hải Phòng 16 tỷ đồng, Nghệ An 2.120 tỷ đồng, Hà Tĩnh 6.000 tỷ đồng, Quảng Trị 550 tỷ đồng.
Các địa phương tiếp tục rà soát cập nhật, tổng hợp thiệt hại và tổ chức khắc phục hậu quả./.
Tải file đính kèm