1. Sự cần thiết sửa đổi, bổ sung
a) Cơ sở chính trị
Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Kết luận số 119-KL/TW ngày 20/01/2025 của Bộ Chính trị về định hướng đổi mới, hoàn thiện quy định pháp luật; Kết luận 126-KL/TW ngày 14/02/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về một số nội dung, nhiệm vụ tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; Kết luận số 183-KL/TW ngày 01/8/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về tích cực triển khai vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
b) Cơ sở pháp lý
Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Nghị quyết số 190/2025/QH15 ngày 19/02/2025 của Quốc hội quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước; Luật Tổ chức Chính phủ ngày 18/2/2025; Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 16/6/2025; Nghị quyết số 206/2025/QH15 ngày 24/6/2025 của Quốc hội về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định pháp luật; Nghị quyết số 98/2025/UBTVQH15 ngày 10/9/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, trong đó, giao Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến đối với dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường
2. Mục tiêu, quan điểm xây dựng
Việc sửa đổi, bổ sung 02 luật để thực hiện chủ trương và thực tế về sắp xếp tổ chức bộ máy; tổ chức chính quyền 02 cấp; phân cấp, phân quyền và giải quyết vấn đề vướng mắc, bất cập phát sinh từ thực tiễn quản lý nhà nước trong lĩnh vực đê điều và phòng, chống thiên tai.
Thể chế hóa để kịp thời thực hiện chủ trương của Đảng về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất đồng bộ trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.
3. Nội dung cơ bản của Luật
a) Nội dung sửa đổi, bổ sung tại Luật Đê điều
- Sửa đổi Quy hoạch phòng, chống lũ của tuyến sông có đê và Quy hoạch đê điều thành Quy hoạch đê điều và phòng, chống lũ của tuyến sông có đê và điều chỉnh thẩm quyền phê duyệt quy hoạch, phê duyệt điều chỉnh quy hoạch từ Thủ tướng Chính phủ thành Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường tại Mục 1 Chương II.
- Bổ sung cụm từ “hoặc phía biển” vào sau cụm từ “về phía đồng và phía sông” để quy định rõ hành lang bảo vệ đối với đê biển tại khoản 2 Điều 23, đảm bảo chặt chẽ, đầy đủ, không gây khó khăn, vướng mắc trong quá trình thi hành Luật.
- Sửa đổi thẩm quyền cấp phép đối với các hoạt động liên quan đến đê điều từ Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sang Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tại các khoản 1, 2, 3 Điều 25; khoản 5 Điều 26.
- Bổ sung một số công trình “cột điện, cột treo cáp viễn thông, trạm khí tượng thủy văn” vào khoản 16 Điều 3 quy định về công trình đặc biệt và khoản 2 Điều 26 quy định về công trình được xây dựng ở bãi sông, bãi nổi hoặc cù lao nơi chưa có công trình xây dựng.
- Bổ sung nội dung quy định đối với diện tích đất xen kẽ giữa các công trình, nhà ở hiện có tại khu vực bãi sông, bãi nổi hoặc cù lao được xem xét, sử dụng khi đáp ứng yêu cầu phòng, chống lũ, an toàn đê điều và giao Chính phủ quy định chi tiết tại điểm c khoản 2 Điều 27 .
- Sửa đổi thẩm quyền phê duyệt nội dung đảm bảo thoát lũ, an toàn đê điều của dự án của Thủ tướng Chính phủ cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tại khoản 3, khoản 4 Điều 26, để thống nhất với quy định tại Điều 28 Nghị định số 136/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 quy định về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.
- Sửa đổi, bổ sung tên gọi, trách nhiệm của một số Bộ tại Điều 42 để phù hợp với tên gọi, chức năng, nhiệm vụ của các Bộ sau sắp xếp tổ chức bộ máy.
- Sửa đổi, bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã tại một số điểm, khoản Điều 43.
- Quy định chuyển tiếp đối với các quy hoạch đê điều, quy hoạch phòng, chống lũ của tuyến sông có đê đã lựa chọn tổ chức tư vấn lập quy hoạch nhưng chưa được thẩm định, phê duyệt thì được tiếp tục thực hiện cho đến khi được thay thế bằng quy hoạch đê điều và phòng, chống lũ của tuyến sông có đê (riêng thẩm quyền phê duyệt quy hoạch là Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường).
Bỏ cụm từ “thanh tra” tại tên Chương VII để thống nhất với Luật Thanh tra năm 2025.
b) Nội sung sửa đổi, bổ sung tại Luật Phòng, chống thiên tai
- Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 9 quy định dự phòng ngân sách nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước để đảm bảo đồng bộ với Luật Ngân sách nhà nước năm 2025.
- Bãi bỏ “Quy hoạch vùng dân cư và tổ chức sản xuất thích ứng với thiên tai” tại khoản 5 Điều 13, điểm d khoản 1 Điều 43 và điều chỉnh “Quy hoạch Phòng, chống thiên tai và thủy lợi” thành “Quy hoạch tài nguyên nước, phòng, chống thiên tai và thủy lợi” tại khoản 5 Điều 13 để đồng bộ với Luật Quy hoạch năm 2025 .
- Bãi bỏ Kế hoạch phòng, chống thiên tai cấp huyện tại khoản 3 Điều 15 và sửa đổi, bổ sung quy định về Kế hoạch phòng, chống thiên tai cấp xã tại khoản 2 Điều 15.
- Sửa đổi thẩm quyền vận động, quyên góp, tiếp nhận và phân bổ nguồn lực để cứu trợ khẩn cấp, hỗ trợ trung hạn của Ủy ban nhân dân cấp huyện cho Ủy ban nhân dân cấp xã tại điểm c khoản 2 Điều 33.
- Sửa đổi, bổ sung tên gọi, trách nhiệm của một số Bộ tại một số khoản, điểm của Điều 42 để phù hợp với tên gọi, chức năng, nhiệm vụ của các Bộ sau sắp xếp tổ chức bộ máy.
- Sửa đổi, bổ sung trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã tại một số khoản, điểm của Điều 43.
4. Các điều kiện đảm bảo thi hành
Kinh phí tổ chức thi hành luật từ nguồn ngân sách Trung ương, ngân sách địa phương; nguồn tài trợ từ các nhà tài trợ, tổ chức quốc tế và các nguồn kinh phí huy động hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương là nguồn nhân lực chủ yếu tổ chức thi hành luật