Luật Đê điều sau thời gian dài thực hiện đã góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ hệ thống đê điều, bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản của Nhà nước và Nhân dân. Tuy nhiên, thực tiễn quản lý đang đặt ra nhiều yêu cầu mới, nhất là trong duy tu, bảo dưỡng công trình; quản lý, bảo vệ đê điều; phân cấp, phân quyền; bảo đảm thống nhất với các luật có liên quan và đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số.
Báo cáo tại buổi họp Ông Vũ Xuân Thành, Phó Cục trưởng Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai, cho biết trước bối cảnh diễn biến thiên tai, mưa, lũ ngày càng cực đoan, dị thường, liên tiếp vượt mức lũ lịch sử và mực nước lũ thiết kế đê trong các năm 2017, 2018, 2024 và 2025, gây ra rất nhiều sự cố đê điều, trong đó nhiều sự cố đặc biệt nghiêm trọng uy hiếp đến an toàn đê, việc nghiên cứu, rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực đê điều để kiến nghị các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp lý nhằm khắc phục, giảm thiểu rủi ro thiên tai, lũ lụt và đảm bảo an toàn hệ thống đê điều là hết sức cần thiết, góp phần nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế và bảo đảm phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu, thiên tai ngày càng gia tăng; đồng thời, thể chế hóa đầy đủ các nghị quyết mới của Đảng, khắc phục những bất cập của pháp luật về đê điều hiện hành, qua đó tạo lập khuôn khổ pháp lý thống nhất, đồng bộ.

Ông Vũ Xuân Thành, Phó Cục trưởng Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai phát biểu tại Hội nghị
Luật Đê điều năm 2006 (có hiệu lực từ 01/7/2007) đã được sửa đổi, bổ sung bởi nhiều luật. Qua 20 năm thực hiện, hệ thống pháp luật về đê điều đã góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý đê điều; từng bước nâng cao tiêu chuẩn phòng, chống lũ, bão của các tuyến đê, góp phần đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản của Nhà nước và Nhân dân. Vì vậy, hầu hết các sự cố đê điều đã được phát hiện, xử lý kịp thời ngay từ giờ đầu theo phương châm “4 tại chỗ”, đảm bảo an toàn của hệ thống đê điều.
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý đê điều, hộ đê còn những khó khăn, vướng mắc và những vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn, trong đó tập trung vào các nhóm vấn đề trọng tâm sau:
1. Một số quy định của Luật Đê điều liên quan đến công tác duy tu bảo dưỡng công trình đê điều, quy chuẩn, tiêu chuẩn, quản lý, sử dụng xe hộ đê,… cần được thống nhất, đồng bộ với các quy định của pháp luật khác có liên quan (như pháp luật về xây dựng; tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật; trật tự, an toàn giao thông đường bộ;…)
2. Thể chế hóa chủ trương đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để xây dựng, quản lý, bảo vệ đê điều.
3. Từ các cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn nêu trên, việc xây dựng chính sách của Luật Đê điều (sửa đổi) là yêu cầu cấp thiết, khách quan.

Đại diện Bộ Quốc phòng phát biểu tại Hội nghị
Góp ý tại hội nghị, đối với chính sách thứ nhất, bà Nguyễn Thị Mai Phương, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội lưu ý nội dung này đã được luật hóa trong Luật sửa đổi, bổ sung 10 luật vừa được Quốc hội thông qua. Do đó, nếu tiếp tục đưa thành một chính sách trong hồ sơ sửa Luật Đê điều thì cần đánh giá kỹ hơn thực tiễn triển khai.

Bà Nguyễn Thị Mai Phương, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội phát biểu tại Hội nghị
Đặc biệt, bà đề nghị làm rõ địa phương được quyết định đến đâu, tiêu chí quyết định như thế nào, trách nhiệm của Trung ương ra sao; trường hợp dự án có tác động liên tỉnh hoặc ảnh hưởng đến khả năng thoát lũ của cả hệ thống sông thì cơ chế xử lý thế nào.
Theo bà Nguyễn Thị Mai Phương, nếu tiếp tục thực hiện phân cấp thì cần gắn với đánh giá năng lực thực hiện của địa phương, đồng thời làm rõ cơ chế phân quyền, kiểm soát rủi ro và hậu kiểm.
Về chính sách thứ hai, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội cho rằng nội dung rà soát để bảo đảm thống nhất giữa Luật Đê điều với các luật khác về bản chất chưa phải là một chính sách, mà là yêu cầu trong quá trình xây dựng pháp luật.
Do đó, nếu giữ chính sách này, cơ quan soạn thảo cần nâng nội hàm lên thành một chính sách thực chất hơn, chẳng hạn tiếp cận theo hướng quản lý vòng đời công trình, gắn với bảo đảm an toàn hệ thống đê điều.
Đối với chính sách thứ ba, bà Nguyễn Thị Mai Phương đánh giá đây là một chính sách lớn và phù hợp yêu cầu quản lý hiện nay. Tuy nhiên, các giải pháp đưa ra còn đơn giản, chủ yếu dừng ở khuyến khích ứng dụng khoa học, công nghệ.
Bà đề nghị chuyển mạnh sang phương thức quản trị đê điều dựa trên dữ liệu, trong đó phải xác định rõ cơ sở dữ liệu về đê điều, trách nhiệm cập nhật, kết nối, chia sẻ dữ liệu; hệ thống quan trắc và giám sát các vị trí trọng điểm theo thời gian thực.
Cùng với đó, dự thảo luật cần thể hiện rõ hơn chính sách phân cấp, phân quyền trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp; xác định cụ thể trách nhiệm của Trung ương, cấp tỉnh và cấp xã, nhất là đối với những vấn đề liên quan đến toàn bộ hệ thống đê điều trên lưu vực sông.

Quang cảnh Hội nghị
Đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường Thanh Hóa cơ bản thống nhất với chính sách thứ nhất, đồng thời đề nghị cụ thể hóa quy chuẩn, tiêu chuẩn về bảo đảm thoát lũ và an toàn đê điều để các địa phương có căn cứ thống nhất trong thực hiện. Đối với chính sách thứ ba, đại diện Thanh Hóa đề nghị nghiên cứu bổ sung quy định về hành lang bảo vệ đê điều theo tiêu chuẩn Việt Nam, xây dựng cơ sở dữ liệu và ứng dụng ảnh vệ tinh để giám sát hệ thống đê.

Đại biểu tham dự Hội nghị
Từ thực tiễn địa phương, đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường Hưng Yên cho biết việc phân cấp thẩm quyền quyết định các vấn đề về thoát lũ đang đặt ra yêu cầu cao về năng lực cán bộ. Vì vậy, cần có hướng dẫn chung để bảo đảm tính pháp lý và hiệu quả khi thực hiện. Địa phương này cũng đặt vấn đề đối với các dự án lấn biển có khả năng tác động đến đê biển; việc xử lý các bến, bãi trên địa bàn và những công trình phụ trợ như lán, lều tạm phục vụ hoạt động tại bến bãi, trong khi quy định hiện hành còn thiếu hướng dẫn cụ thể.

Đại biểu tham dự Hội nghị
Phát biểu tại Hội nghị, TS Trần Quang Hoài, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Phòng, chống thiên tai (trước là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho rằng trong bối cảnh biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan, nguy cơ mất an toàn đê điều đặt ra yêu cầu mới về cảnh báo, ứng cứu. Theo ông, cần nghiên cứu chính sách đặc thù đối với duy tu, bảo dưỡng đê điều. Cơ chế Trung ương hỗ trợ đã có nhưng cần hướng dẫn cụ thể để có thể triển khai ngay khi phát sinh sự cố, đáp ứng yêu cầu bảo đảm an toàn đê điều.

TS. Trần Quang Hoài, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Phòng, chống thiên tai (trước là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phát biểu tại Hội nghị
Tại Hội nghị, các đại biểu đã cùng trao đổi, thảo luận về những vấn đề đặt ra trong thực tiễn quản lý, bảo vệ và duy tu hệ thống đê điều; đồng thời tập trung góp ý đối với các nhóm chính sách dự kiến đưa vào hồ sơ sửa đổi Luật Đê điều. Nội dung thảo luận tập trung vào phân cấp, phân quyền trong quản lý đê điều, bảo đảm thoát lũ, duy tu, bảo dưỡng công trình, ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu, qua đó góp phần hoàn thiện các chính sách, quy định pháp luật phù hợp với yêu cầu quản lý đê điều trong tình hình mới.
Ông Vũ Xuân Thành cho biết Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai sẽ nghiêm túc tiếp thu các ý kiến đóng góp, tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện hồ sơ chính sách trình Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Cơ quan soạn thảo cũng đang rà soát phương án xây dựng dự án luật theo hướng sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế toàn diện Luật Đê điều. Các ý kiến tại Hội nghị sẽ được tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền để bảo đảm lựa chọn phương án phù hợp về nội dung, tiến độ và yêu cầu quản lý đê điều trong tình hình mới.
Việc sửa đổi Luật Đê điều không chỉ nhằm hoàn thiện quy định pháp luật mà còn hướng tới đổi mới phương thức quản lý, tăng cường khả năng chủ động phòng ngừa và ứng phó với rủi ro. Khi trách nhiệm được phân định rõ, dữ liệu được cập nhật, kết nối và chia sẻ kịp thời, công tác quản lý, bảo vệ đê điều sẽ có thêm cơ sở để nâng cao hiệu quả, bảo đảm an toàn cho người dân và phục vụ phát triển bền vững.