Theo dõi sát diễn biến xâm nhập mặn
Chiều xuống ở cửa Lạch Sung, xã Vạn Lộc, khi thủy triều từ biển theo sông Lèn dâng lên, đoàn công tác của Trung tâm Quan trắc môi trường và Chứng nhận chất lượng sản phẩm nông nghiệp thực hiện đợt đo triều - mặn định kỳ.
Sau khi hoàn tất việc phân tích, các thông số độ mặn lần lượt hiện lên trên màn hình thiết bị. Kết quả, độ mặn đỉnh triều tại Lạch Sung dao động từ 14,15 đến 18,05%o (phần nghìn), độ mặn chân triều từ 3,03 đến 4%o. Độ mặn 1%o có khả năng xâm nhập sâu tới 18,6km tính từ cửa biển. Những thông số trên cho thấy xâm nhập mặn vẫn tác động trực tiếp đến các tuyến sông ven biển. Nguồn nước phục vụ sản xuất vì vậy chịu nhiều áp lực, nhất là tại các khu vực cuối nguồn.
Theo kế hoạch phòng, chống hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn năm 2026 của UBND tỉnh, khu vực ven biển Thanh Hóa có khoảng 2.000ha sản xuất đứng trước nguy cơ bị ảnh hưởng bởi thiếu nước và xâm nhập mặn. Toàn tỉnh có khoảng 54 trạm bơm chịu tác động của thủy triều và độ mặn. Trước nguy cơ xâm nhập mặn, ngành nông nghiệp và môi trường tỉnh duy trì thường xuyên công tác quan trắc triều - mặn trên các hệ thống sông chính, kịp thời cập nhật kết quả cho địa phương, các đơn vị quản lý thủy lợi để chủ động điều hành nguồn nước phục vụ sản xuất. Cùng với việc theo dõi diễn biến thủy văn, các đơn vị thủy lợi tăng cường tích trữ nước trong kênh mương, ao hồ, vận hành linh hoạt các trạm bơm vùng triều và chuẩn bị phương án ứng phó trong mùa khô.
Tại xã Vạn Lộc, mỗi khi bước vào cao điểm nắng nóng, ông Trịnh Văn Hiến, cán bộ phụ trách lĩnh vực nông nghiệp, thủy lợi của xã cùng lực lượng quản lý công trình thường xuyên kiểm tra các tuyến sông, kênh dẫn và hệ thống cống vùng triều. Nhiều thời điểm, cán bộ thủy lợi phải theo dõi mực nước từ sáng sớm hoặc đêm muộn để tranh thủ lấy nước khi độ mặn giảm. Những ngày độ mặn tăng cao, việc lấy nước phải tính toán theo từng con nước. Thời điểm vận hành cống, trạm bơm được xác định dựa trên kết quả quan trắc, mực nước triều và nhu cầu sản xuất của từng khu vực. Khi độ mặn vượt ngưỡng cho phép, các cống được đóng để giữ nguồn nước ngọt trong hệ thống. Khi điều kiện thuận lợi xuất hiện, các đơn vị tranh thủ đưa nước vào nội đồng và các vùng sản xuất. Ông Hiến cho biết: “Có thời điểm việc lấy nước chỉ thực hiện được trong khoảng thời gian ngắn. Nếu không theo dõi sát diễn biến nguồn nước và vận hành kịp thời sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất của người dân”.
Cùng với việc vận hành hệ thống thủy lợi, Vạn Lộc thường xuyên rà soát các tuyến đê, cống, xây dựng phương án ứng phó thiên tai và theo dõi sát diễn biến thời tiết để kịp thời thông tin tới người dân. Các ngành chuyên môn tăng cường hướng dẫn chuyển đổi cơ cấu sản xuất, hỗ trợ khôi phục sản xuất sau thiên tai và lựa chọn những mô hình phù hợp với điều kiện vùng ven biển. Từ những kết quả quan trắc được cập nhật thường xuyên, các địa phương và đơn vị quản lý thủy lợi có thêm căn cứ để điều hành nguồn nước phục vụ sản xuất. Trong khi các công trình thủy lợi góp phần giữ nguồn nước ngọt cho đồng ruộng, nhiều hộ dân vùng ven biển cũng chủ động điều chỉnh phương thức sản xuất, tận dụng lợi thế vùng nước lợ để phát triển sinh kế.
Sinh kế từ vùng nước lợ
Tại thôn Trường Nam, xã Vạn Lộc, anh Chu Văn Tuấn đang tất bật kiểm tra hệ thống ao nuôi tôm thẻ chân trắng trong nhà lưới. Ít ai nghĩ rằng, khu vực ao nuôi rộng gần 1,8ha của gia đình anh trước đây từng là diện tích đất lúa cho hiệu quả kinh tế thấp. Sau nhiều lần tính toán, anh quyết định nhận thầu diện tích đất này để đầu tư nuôi tôm thẻ chân trắng theo hướng công nghiệp, ứng dụng công nghệ cao. Những ngày đầu, gia đình anh phải đầu tư hệ thống ao nuôi, nhà lưới, thiết bị xử lý nước và học hỏi quy trình kỹ thuật mới. Mỗi biến động của thời tiết đều tác động trực tiếp đến môi trường nuôi, vì vậy, việc theo dõi chất lượng nước được thực hiện thường xuyên. Tôm thẻ chân trắng có thời gian nuôi khoảng 80 đến 90 ngày là có thể thu hoạch. Nhờ áp dụng quy trình VietGAP, kiểm soát chặt chẽ môi trường và chất lượng con giống, gia đình anh Tuấn duy trì đều đặn 3 vụ nuôi mỗi năm, tạo nguồn thu ổn định. Dù từng chịu ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh và những trận bão lớn gây ngập vùng nuôi thủy sản, anh vẫn kiên trì bám nghề. Từ mô hình ban đầu, cách làm của anh đang được nhiều hộ dân trong vùng quan tâm học hỏi.
Với lợi thế có cửa Lạch Trường, Lạch Sung, hệ sinh thái đa dạng và nguồn lao động dồi dào, xã Vạn Lộc xác định kinh tế biển là một trong những lĩnh vực phát triển trọng tâm. Hiện địa phương có hơn 420 phương tiện khai thác thủy sản. Những năm gần đây, xã tập trung điều chỉnh cơ cấu đội tàu, khuyến khích phát triển tàu công suất lớn, đầu tư trang thiết bị hiện đại và tạo điều kiện để ngư dân tiếp cận nguồn vốn phục vụ sản xuất. Cùng với khai thác hải sản, nuôi trồng thủy sản đang trở thành thế mạnh của địa phương. Trên diện tích hơn 650ha mặt nước, người dân phát triển các đối tượng nuôi chủ lực như ngao, tôm, cá, cua, với sản lượng khoảng 10.000 tấn mỗi năm. Từ các lớp tập huấn kỹ thuật, chương trình hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề đến hoạt động chế biến thủy hải sản, nhiều hộ dân đã chủ động mở rộng sản xuất và khai thác hiệu quả hơn nguồn lợi sẵn có.
Tuy nhiên, vùng ven biển cũng thường xuyên đối mặt với những tác động của thiên tai. Theo thống kê của địa phương, riêng năm 2025, thiên tai đã gây thiệt hại lớn đối với sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và chăn nuôi. Diện tích trồng trọt bị ảnh hưởng hơn 358ha, diện tích nuôi trồng thủy sản bị ảnh hưởng hơn 315ha, tổng thiệt hại ước tính gần 200 tỷ đồng. Trước những thách thức đó, tỉnh Thanh Hóa tiếp tục triển khai các giải pháp phòng, chống hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn; tăng cường năng lực dự báo, theo dõi diễn biến nguồn nước; nâng cao hiệu quả vận hành các công trình thủy lợi và khuyến khích phát triển các mô hình sản xuất thích ứng với điều kiện nước mặn, nước lợ.
Giữa vùng cửa sông, cửa biển, cuộc chiến với xâm nhập mặn vẫn tiếp diễn, cùng với nỗ lực tìm kiếm những sinh kế phù hợp để ổn định cuộc sống.