Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Đợt mưa lũ ở Trung Quốc và bài học cho Việt Nam


Thiên tai không có biên giới khí quyển

Đầu tháng 7/2026, bão Maysak gây mưa lớn tại Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Trung Quốc). Nhiều hồ chứa tại thành phố Hoành Châu (Hengzhou) và huyện Tân Dương (Binyang) đã xuất hiện tình trạng nước tràn qua thân đập hoặc vỡ đập.

Khoảng 11h sáng 6/7, hai đoạn thân đập của hồ chứa Liulan tại thành phố Hoành Châu bị vỡ. Sự cố tạo ra một khoảng hở dài khoảng 50 mét trên thân đập, khiến lượng nước khổng lồ đổ xuống khu vực hạ lưu.

Giới chức Trung Quốc đã phát cảnh báo lũ ở mức cao nhất, đồng thời triển khai các đội cứu hộ và sơ tán người dân khi bão Maysak được dự báo tiếp tục gây mưa lớn tại khu vực.

Nhiều năm qua, cứ mỗi khi miền Nam Trung Quốc xuất hiện mưa lớn, lũ quét hoặc ngập lụt nghiêm trọng, nhiều người lại đặt câu hỏi: Liệu miền Bắc Việt Nam có sắp bước vào một đợt thiên tai tương tự hay không?

Theo GS Nguyễn Quốc Dũng, Chủ tịch Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam, cách nhìn này phản ánh đúng một phần thực tế nhưng nếu cho rằng mưa lũ ở Trung Quốc là nguyên nhân trực tiếp gây mưa lũ ở Việt Nam thì chưa chính xác về mặt khoa học.

Ông cho biết, xét về hình thái thời tiết, miền Nam Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam nằm trong cùng một hệ thống khí hậu, không tồn tại ranh giới trên khí quyển. Vì vậy, cả hai khu vực cùng chịu tác động của hoàn lưu khí quyển, bão, gió mùa và các đợt không khí lạnh quy mô lớn.

“Thông thường đầu mùa mưa bão, các cơn bão ảnh hưởng khu vực Quảng Đông, Quảng Tây. Khi kết hợp với không khí lạnh, các hình thế này sẽ đẩy vùng mưa xuống miền Bắc Việt Nam. Đó là quy luật tự nhiên, chúng ta không thể thay đổi”, GS Nguyễn Quốc Dũng phân tích.

Theo ông, mùa mưa bão ở Việt Nam cũng dịch chuyển theo đúng quy luật đó. Khoảng ngày 15/6 hàng năm là thời điểm chính thức bước vào mùa mưa bão ở đồng bằng Bắc Bộ, là mốc thời gian đã được xác định trong Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Hồng. Sau đó, vùng mưa tiếp tục dịch chuyển vào Trung Bộ khoảng tháng 9, rồi đến Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ vào khoảng tháng 11-12.

“Đó là quy luật của khí hậu. Mối liên hệ giữa hai nước là cùng chịu tác động của hình thái thời tiết chung, chứ không phải mưa ở Trung Quốc là nguyên nhân trực tiếp gây mưa ở Việt Nam”, ông nhấn mạnh.

Từ quy luật này, GS Nguyễn Quốc Dũng cho rằng Việt Nam hoàn toàn có thể theo dõi diễn biến thời tiết ở miền Nam Trung Quốc để nâng cao chất lượng dự báo ngắn hạn, chủ động xây dựng các kịch bản vận hành hồ chứa, điều tiết nguồn nước và ứng phó với thiên tai. Đây cũng là cơ sở để các quy trình vận hành liên hồ chứa hiện nay được xây dựng theo diễn biến mùa mưa bão từ Bắc vào Nam.

Tuy nhiên, khi nói đến tác động từ các hồ chứa phía thượng nguồn Trung Quốc, chuyên gia cho rằng cần có cách nhìn khách quan hơn.

Theo ông, chỉ một số lưu vực có mối liên hệ trực tiếp với Việt Nam như sông Thao (thượng nguồn sông Hồng), sông Gâm, sông Lô. Nhánh sông Thao, trên đất Trung Quốc có 2 hồ chứa lớn với tổng dung tích gần 600 triệu m3, nhánh sông Lô phía Trung Quốc có thủy điện Ma Lù Thàng dung tích 560 triệu m3 cách Tuyên Quang khoảng 100 km.

Mưa lũ ở phía Nam Trung Quốc không chỉ ảnh hưởng mà còn là yếu tố đầu vào mang tính quyết định đến mức độ nghiêm trọng của các trận lũ tại Đồng bằng sông Hồng. Việc theo dõi chặt chẽ dữ liệu lượng mưa và lưu lượng xả từ các trạm thủy văn phía bên kia biên giới là điều kiện tiên quyết để vận hành an toàn hệ thống liên hồ chứa thượng nguồn và bảo vệ hạ du của Việt Nam. Trong các đợt mưa lũ năm 2024 và 2025, Việt Nam đã trao đổi với phía Trung Quốc về việc tạm hoãn xả lũ tại một số thời điểm nhằm giảm áp lực cho hạ du.

Theo Chủ tịch Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam, vấn đề lớn nhất hiện nay là khả năng tiếp cận thông tin. Việc thiếu dữ liệu quan trắc khí tượng, thủy văn và thông tin vận hành hồ chứa từ thượng nguồn khiến công tác dự báo và điều hành hồ chứa của Việt Nam gặp nhiều khó khăn.

Ông cho biết Việt Nam đang tăng cường hợp tác với Khu tự trị Quảng Tây cùng các địa phương biên giới của Trung Quốc để trao đổi dữ liệu dự báo, thông tin vận hành hồ chứa và kế hoạch xả lũ, qua đó nâng cao tính chủ động trong điều hành. Sự phối hợp này chủ yếu được thực hiện thông qua các cơ chế hợp tác và kênh ngoại giao, bởi Việt Nam không thể đặt các trạm quan trắc trên lãnh thổ Trung Quốc; ngay cả việc xây dựng trạm quan trắc trên lãnh thổ Lào cũng không phải điều đơn giản.

Mưa lớn đồng thời trên toàn lưu vực mới là thách thức lớn nhất.

Theo GS Nguyễn Quốc Dũng, nếu đặt ra kịch bản xảy ra sự cố như vỡ đập ở phía Trung Quốc thì trước hết cần nhìn nhận đúng quy mô các công trình trên những lưu vực chảy vào Việt Nam.

Đối với lưu vực sông Lô, nhánh sông này bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), nơi được gọi là sông Bàn Long. Trên dòng sông này, Trung Quốc xây dựng thủy điện Ma Lù Thàng với dung tích hồ chứa hơn 500 triệu m3. Tuy nhiên, nước từ hồ chứa này sau khi xả sẽ theo sông Lô qua cửa khẩu Thanh Thủy, chảy về hạ lưu Tuyên Quang và không đi qua hồ thủy điện Tuyên Quang.

Trong khi đó, nguồn nước trực tiếp cấp cho hồ thủy điện Tuyên Quang chủ yếu đến từ sông Gâm. Nhánh sông này bắt nguồn từ Quảng Tây (Trung Quốc), nhưng ở khu vực thượng nguồn phía Trung Quốc, do địa hình còn hẹp và dòng chảy nhỏ nên không có các hồ chứa, thủy điện quy mô lớn có khả năng tác động đáng kể đến lượng nước đổ vào hồ Tuyên Quang. Các công trình thủy điện lớn trên sông Gâm chủ yếu nằm trên lãnh thổ Việt Nam, gồm Bảo Lâm, Bắc Mê, Chiêm Hóa và Tuyên Quang.

Dòng nước từ sông Lô chảy từ Trung Quốc và dòng nước xả từ hồ thủy điện Tuyên Quang trên sông Gâm chỉ hợp lưu tại khu vực ngã ba Cửa Sông, cách trung tâm TP Tuyên Quang (cũ) khoảng 10 km về phía Bắc. Vì vậy, khi phía Trung Quốc xả nước trên lưu vực sông Lô, kết hợp với việc các hồ chứa trong nước vận hành xả lũ hoặc khu vực có mưa lớn, lưu lượng nước tại điểm hợp lưu có thể gia tăng, làm tăng nguy cơ ngập lụt cho vùng hạ lưu, trong đó có khu vực TP Tuyên Quang (cũ).

Vì vậy, điều Việt Nam cần lúc này là cơ chế trao đổi chính thức giữa các cơ quan quản lý để cập nhật kịp thời số liệu khí tượng, thủy văn cũng như kế hoạch vận hành, xả lũ của các hồ chứa phía thượng nguồn.

Đối với các hồ chứa lớn của Việt Nam như Tuyên Quang, Thác Bà..., hiện đều đã xây dựng các kịch bản ứng phó. Khi tiếp nhận thông tin phía Trung Quốc vận hành xả lũ, các hồ chứa trong nước sẽ thực hiện quy trình điều tiết theo phương án đã được chuẩn bị từ trước.

Theo Chủ tịch Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam, điều khó nhất là không thể dự báo chính xác thời điểm xảy ra sự cố vỡ đập. Khi có sự cố, việc quan trọng nhất là nhanh chóng tiếp nhận thông tin, theo dõi diễn biến mực nước và kích hoạt ngay các phương án ứng phó đã được xây dựng.

Đặc biệt, kịch bản nguy hiểm nhất là khi cả phía Trung Quốc và phía Việt Nam cùng xuất hiện mưa lớn trên một lưu vực. Khi đó, việc vận hành hồ chứa phải dựa hoàn toàn vào diễn biến thực tế, bao gồm dự báo lưu lượng nước từ thượng nguồn, lượng mưa trong nước và phương án điều tiết, xả lũ phù hợp đối với từng hồ chứa.

“Trong các phương án ứng phó của các đập lớn hiện nay đều đã có những kịch bản như vậy. Chúng ta cũng không có cách nào khác ngoài việc chuẩn bị tốt kế hoạch sẵn sàng và vận hành theo diễn biến thực tế”, GS Nguyễn Quốc Dũng nhấn mạnh.

Từ diễn tập vỡ đập đến bản đồ số những kinh nghiệm Việt Nam nên học

Theo GS Nguyễn Quốc Dũng, một trong những kinh nghiệm đáng học hỏi nhất từ Trung Quốc là mô hình quản lý thủy văn theo lưu vực sông.

Ông cho biết, ngoài Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia tương tự Việt Nam, Trung Quốc còn có các đơn vị thủy văn chuyên trách tại từng lưu vực sông lớn. Các đơn vị này chịu trách nhiệm quan trắc điều kiện khí tượng, thủy văn trên toàn lưu vực, tính toán dòng chảy, dự báo và đưa ra khuyến cáo hỗ trợ vận hành hồ chứa.

“Đây là mô hình mà Việt Nam hiện vẫn chưa hình thành đầy đủ. Chúng tôi đang kiến nghị mỗi lưu vực sông cần có một bộ phận chuyên trách thực hiện tính toán, dự báo dòng chảy và tham mưu quyết định vận hành hồ chứa”, ông nói.

Một kinh nghiệm khác được GS Nguyễn Quốc Dũng đánh giá rất cao là Trung tâm diễn tập ứng phó tình huống khẩn cấp về đập của Trung Quốc.

Trong chuyến công tác năm 2019, đoàn chuyên gia Việt Nam đã trực tiếp khảo sát trung tâm này. Theo ông, đây là một tổ hợp có quy mô rất lớn, tương đương khu liên hợp thể thao Mỹ Đình, được xây dựng với mô hình hồ đập gần như thật. Trung tâm có thể bơm nước từ sông Trường Giang để tạo hồ chứa và mô phỏng nhiều kịch bản sự cố như nước tràn qua đập, nổ mìn tạo tình huống vỡ đập. 

Các cuộc diễn tập được tổ chức như một sự cố thực tế với sự tham gia của trực thăng, quân đội, dân quân, lực lượng cứu hộ, y tế và giao thông. Theo quy định của Chính phủ Trung Quốc, hằng năm lãnh đạo các cơ quan phòng, chống thiên tai cấp tỉnh đều phải tham gia diễn tập tại đây trước khi mở rộng xuống các cấp địa phương.

“Đây là mô hình rất đáng để Việt Nam học tập. Hiện nay chúng ta chủ yếu mới diễn tập theo kịch bản trên giấy hoặc tổ chức diễn tập tại từng công trình cụ thể với các tình huống giả định nhưng chưa có một trung tâm mô phỏng sự cố vỡ đập sát với thực tế và huy động đầy đủ các lực lượng tham gia như Trung Quốc”, GS Nguyễn Quốc Dũng nhận định.

Theo chuyên gia, Việt Nam không nhất thiết phải đầu tư xây dựng một trung tâm diễn tập quy mô tương tự Trung Quốc bởi chi phí rất lớn. Giải pháp khả thi hơn là tăng cường hợp tác quốc tế, cử cán bộ sang tham gia các đợt diễn tập thực tế của Trung Quốc để học hỏi kinh nghiệm và nâng cao năng lực ứng phó.

Ông nhấn mạnh, trong ứng phó sự cố đập, yếu tố quan trọng nhất là phải xây dựng kịch bản hành động theo từng giai đoạn. Giai đoạn đầu tập trung xử lý sự cố tại thân đập, khống chế các vị trí hư hỏng nếu còn khả năng kiểm soát. Khi nguy cơ vượt quá khả năng ứng cứu, nhiệm vụ trọng tâm phải chuyển ngay sang cảnh báo khu vực hạ du, tổ chức sơ tán người dân và bảo đảm an toàn tính mạng.

“Không phải tất cả mọi người đều làm tất cả mọi việc. Mỗi giai đoạn phải có nhiệm vụ riêng, lực lượng riêng và sự phối hợp thật nhịp nhàng”, ông nói.

Theo Chủ tịch Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam, để hạn chế tối đa nguy cơ xảy ra sự cố, công tác kiểm tra, đánh giá và kiểm định an toàn đập cần được thực hiện nghiêm túc theo quy định của Nghị định 114/2018/NĐ-CP về quản lý an toàn đập, hồ chứa nước và các tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành. Đây là nền tảng quan trọng để kịp thời phát hiện nguy cơ, xử lý từ sớm và giảm thiểu rủi ro trong mùa mưa lũ.

Trong khuôn khổ cơ chế hợp tác Lan Thương - Mê Công, GS Nguyễn Quốc Dũng có nhiều dịp trao đổi với các hội đập lớn trong khu vực. Theo ông, Việt Nam, Thái Lan, Indonesia và Malaysia đều khá chủ động trong xây dựng thể chế, quản lý an toàn đập và tổ chức ứng phó thiên tai. Trong khi đó, Lào, Campuchia và Myanmar còn hạn chế về năng lực kỹ thuật nên đối với các đập lớn vẫn phải thuê các tổ chức của Trung Quốc hoặc đơn vị quốc tế kiểm tra, kiểm định và đánh giá an toàn.

Trong số các mô hình khu vực, ông đặc biệt ấn tượng với hệ thống cảnh báo ngập lụt vùng hạ du hồ chứa của Thái Lan. Thay vì chỉ xây dựng bản đồ ngập lụt trên giấy, Thái Lan biến các bản đồ ngập lụt thành các bảng cảnh báo ngập lụt khổ lớn đặt tại trụ sở chính quyền, bến xe buýt và các khu vực công cộng ở vùng hạ du.

Trên mỗi bảng đều thể hiện vị trí người dân đang đứng, vị trí hồ chứa và phạm vi ngập tương ứng với từng cấp báo động. Hệ thống cảnh báo sử dụng ba cấp độ màu kết hợp đèn tín hiệu (xanh, vàng, đỏ): đèn xanh báo trạng thái an toàn; đèn vàng cảnh báo, người dân cần chuẩn bị sơ tán theo tuyến đường đã được chỉ dẫn; khi đèn đỏ nhấp nháy kèm còi báo động, người dân chỉ cần nhìn vào bảng là biết mình đang ở vị trí nào và phải di chuyển theo hướng nào để ra khỏi vùng nguy hiểm.

“Điều đáng học hỏi là bản đồ rất đơn giản, ai cũng có thể hiểu ngay, kể cả người dân không có kiến thức chuyên môn”, GS Nguyễn Quốc Dũng nhấn mạnh.

Theo ông, nhiều địa phương ở Việt Nam hiện đã xây dựng bản đồ ngập lụt trên giấy hoặc dưới dạng dữ liệu số, nhưng điều còn thiếu là chuyển những dữ liệu kỹ thuật này thành các bảng cảnh báo trực quan ngoài thực địa như cách Thái Lan đang áp dụng.

“Trong tình huống khẩn cấp, người dân không thể mở bản đồ số hay đọc những tài liệu kỹ thuật phức tạp. Điều họ cần là một bảng chỉ dẫn đơn giản để biết ngay mình đang ở đâu và phải sơ tán theo hướng nào”, ông nói.

Bên cạnh các mô hình cảnh báo trực quan, GS Nguyễn Quốc Dũng cho biết Trung Quốc hiện đã phát triển hệ thống bản đồ số ứng dụng công nghệ định vị LBS (Location-Based Services), một dạng của bản sao số của Bản đồ ngập lụt (Digital Twin) trên nền tảng web hoặc app. Trên màn hình, cơ quan quản lý có thể theo dõi theo thời gian thực diễn biến của dòng lũ, vận tốc dòng chảy, các tuyến đường sơ tán phù hợp, đồng thời xác định chính xác còn bao nhiêu người đang ở trong vùng nguy hiểm để ưu tiên triển khai lực lượng cứu hộ. Theo ông, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đang hướng đến xây dựng các hệ thống bản đồ số theo hướng này.

GS Nguyễn Quốc Dũng cho rằng công cụ càng đơn giản thì hiệu quả càng cao. Người dân không thể sử dụng những bản đồ quá nặng về kỹ thuật trong tình huống khẩn cấp. Vì vậy, các hệ thống cảnh báo cần được thiết kế để dễ sử dụng và phục vụ cho đối tượng chính là người dân.

Có chủ trương đúng nhưng thiếu đường ray để vận hành

Theo GS Nguyễn Quốc Dũng, định hướng chỉ đạo của Đảng và Chính phủ về bảo đảm an toàn đập, hồ chứa và ứng phó thiên tai hiện đã rất rõ, thể hiện qua Chỉ thị số 23-CT/TW của Ban Bí thư được ban hành sau bão Yagi cuối năm 2024 và Nghị quyết số 126/NQ-CP của Chính phủ được ban hành sau đợt mưa lũ năm 2025.

Điểm cốt lõi của Chỉ thị 23 là chuyển tư duy từ bị động ứng phó sang chủ động phòng ngừa, đồng thời yêu cầu tăng cường ứng dụng khoa học - công nghệ và hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật trong quản lý, vận hành hồ chứa.

Nghị quyết 126 mở ra nhiều cơ chế mới như nghiên cứu sử dụng linh hoạt một phần dung tích hồ chứa để tăng khả năng cắt giảm lũ, nâng cao chất lượng dự báo, đẩy mạnh chuyển đổi số và cho phép xã hội hóa dịch vụ hỗ trợ ra quyết định vận hành hồ chứa.

“Đây đều là những chủ trương rất đúng. Nếu triển khai đầy đủ, công tác chủ động phòng chống thiên tai của Việt Nam sẽ được nâng lên một bước rất quan trọng”, ông nhận định.

Tuy nhiên, theo GS Nguyễn Quốc Dũng, khoảng trống hiện nay lại nằm ở hệ thống tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật. Ông dẫn ví dụ, nếu cho phép chủ động hạ thấp mực nước hồ trước mùa mưa hay sử dụng linh hoạt dung tích phòng lũ thì phải có quy chuẩn quy định rõ điều kiện nào được áp dụng, yêu cầu về chất lượng dự báo ra sao, trách nhiệm thuộc về đơn vị nào và căn cứ kỹ thuật như thế nào.

“Nếu dự báo không chính xác, cuối mùa mưa lại không có nước thì sẽ thiếu điện, thiếu nước phục vụ sản xuất. Khi đó ai chịu trách nhiệm?”, ông đặt vấn đề.

Theo ông, các nhà máy thủy điện hiện phải đồng thời đáp ứng hai yêu cầu rất khó: phát điện đúng công suất đã đăng ký và bảo đảm tuyệt đối an toàn công trình. Vì vậy, hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn không chỉ là cơ sở kỹ thuật mà còn là “lá chắn pháp lý” để bảo vệ người ra quyết định và đơn vị vận hành.

Bằng Nghị quyết số 12/2026/NQ-CP về thực hiện một số giải pháp cấp bách trong quản lý an toàn đập, hồ chứa nước, Chính phủ đã mở cơ chế cho phép các chủ hồ thuê đơn vị tư vấn chuyên nghiệp hỗ trợ tính toán, mô phỏng và đề xuất phương án vận hành. Tuy nhiên, các doanh nghiệp vẫn cần một hành lang pháp lý đầy đủ để có thể ký hợp đồng và sử dụng kinh phí mà không phát sinh rủi ro trong quá trình thanh tra, kiểm toán.

Theo GS Nguyễn Quốc Dũng, dự báo khí tượng mới chỉ cho biết khu vực nào có khả năng xảy ra mưa, trong khi để xác định lượng nước sẽ về hồ bao nhiêu, vào thời điểm nào lại là bài toán thủy văn hoàn toàn khác và cần các mô hình tính toán chuyên sâu.

“Đây chính là khoảng trống hiện nay. Nếu không sớm hoàn thiện các hướng dẫn kỹ thuật thì nhiều chủ trương rất đúng của Đảng và Chính phủ sẽ khó đi vào thực tiễn”, ông nhấn mạnh.

Bên cạnh đó cũng cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế xã hội hóa, cơ chế tài chính và phân định trách nhiệm giữa các chủ hồ chứa trên cùng lưu vực. Ông đề xuất nghiên cứu cơ chế bảo hiểm đối với các hồ chứa có mức độ rủi ro cao, đồng thời xây dựng cơ chế chia sẻ trách nhiệm giữa các công trình thượng lưu và hạ lưu thay vì để một hồ chứa gánh toàn bộ áp lực khi xảy ra lũ lớn.

Dẫn ví dụ về kinh phí để xây dựng bản đồ ngập lụt. Theo GS Nguyễn Quốc Dũng, nhiều doanh nghiệp thủy điện sẵn sàng đóng góp kinh phí nhưng chưa có quy định cụ thể về cách thức huy động, phân bổ và quản lý nguồn vốn.

“Doanh nghiệp không thiếu tiến để làm việc này, điều họ cần là một cơ chế pháp lý rõ ràng để có thể chi tiền mà không gặp rủi ro sau này trong quá trình thanh tra, kiểm toán”, ông nói.

Theo GS Nguyễn Quốc Dũng, để bảo đảm an toàn đập trong bối cảnh thiên tai ngày càng cực đoan, cần xây dựng Khung quản lý an toàn đập đồng bộ, dựa trên bốn trụ cột.

Trụ cột đầu tiên là thể chế, bao gồm hệ thống pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, mô hình tổ chức quản lý và các hướng dẫn chuyên môn. Đây là nền tảng quan trọng nhất, nhưng cũng là khâu còn có khoảng trống.

Trụ cột thứ hai là kiểm tra và bảo trì công trình, đặc biệt đối với khoảng 6.500 hồ chứa vừa và nhỏ, chiếm gần 80% tổng số hồ chứa cả nước. Trong đó, khoảng 64% trước đây do cấp huyện và cấp xã quản lý. Sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, theo ông, cần sớm xác định rõ ai là người chịu trách nhiệm kiểm tra, báo cáo và xử lý các nguy cơ mất an toàn cho các đập vừa và nhỏ. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu cơ chế tài chính ổn định cho công tác bảo trì hồ chứa, tương tự quỹ bảo trì đang áp dụng đối với nhà chung cư.

Trụ cột thứ ba là mô hình ứng phó sự cố. Theo ông, Luật Phòng thủ dân sự đã tạo khung pháp lý nhưng cần tiếp tục cụ thể hóa trách nhiệm của từng lực lượng ở cơ sở, tổ chức diễn tập thường xuyên và bảo đảm lực lượng xung kích phòng chống thiên tai đều nắm rõ vị trí công trình, tuyến đường tiếp cận cũng như phương án xử lý khi có tình huống khẩn cấp.

Trụ cột cuối cùng là con người. Đối với các hồ chứa lớn, đội ngũ quản lý cơ bản được đào tạo bài bản. Tuy nhiên, khoảng 80% hồ chứa vừa và nhỏ vẫn cần được xác định rõ người quản lý là ai. Với những đối tượng này cần bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng nhận diện nguy cơ, xử lý sự cố trong giờ đầu.

Theo GS Nguyễn Quốc Dũng, mặc dù nhiều dự án nâng cấp an toàn đập đã được triển khai, hiện vẫn còn hơn 100 hồ chứa chưa đáp ứng yêu cầu về khả năng xả lũ. Những công trình này cần sớm được nhận diện, phân loại mức độ rủi ro và xây dựng lộ trình đầu tư, nâng cấp trong trung hạn.

Trung Hiếu- NNVN

https://nongnghiepmoitruong.vn/dot-mua-lu-gay-vo-dap-o-trung-quoc-va-bai-hoc-cho-viet-nam-d822917.html