Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Báo cáo nhanh công tác trực ban PCTT ngày 02/7/2026



BÁO CÁO NHANH

Công tác phòng, chống thiên tai ngày 02/7/2026

I. TÌNH HÌNH THỜI TIẾT, THIÊN TAI

1. Tin bão khẩn cấp (cơn bão số 1)

Sáng sớm ngày 03/7/2026, áp thấp nhiệt đới trên khu vực phía Tây Bắc đặc khu Hoàng Sa đã mạnh lên thành bão, cơn bão số 01 năm 2026, có tên quốc tế là MAYSAK. Hồi 04 giờ ngày 03/7, vị trí tâm bão ở vào khoảng 17,3 độ Vĩ Bắc; 110,1 độ Kinh Đông, trên vùng biển phía Tây Bắc đặc khu Hoàng Sa, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 120km về phía Nam. Sức gió mạnh nhất vùng gần tâm bão mạnh cấp 8, giật cấp 10; di chuyển theo hướng Tây với tốc độ khoảng 10 km/h.

Dự báo:

- Đến 04h/04/7: Vị trí ở 19,5 N-108,8E; trên khu vực ven biển phía Tây đảo Hải Nam (Trung Quốc); di chuyển hướng Bắc Tây Bắc, tốc độ khoảng 10-15km/h; sức gió cấp 8, giật cấp 10. Vùng nguy hiểm 16,0N-20,0N, 108,0E-114,0E. RRTT cấp 3: Phía Tây khu vực Bắc Biển Đông (bao gồm đặc khu Hoàng Sa).

- Đến 04h/05/7: Vị trí ở 21,5N-107,9E; trên vùng biển Quảng Ninh - Hải Phòng; di chuyển hướng Bắc Tây Bắc, tốc độ khoảng 10-15km/h; sức gió cấp 8, giật cấp 10. Vùng nguy hiểm phía Bắc 17,5N, phía Tây 112,0E. RRTT cấp 3: Vùng biển phía Tây Bắc khu vực Bắc Biển Đông; khu vực Bắc Vịnh Bắc Bộ (bao gồm đặc khu Bạch Long Vỹ, Vân Đồn, Cô Tô, Cát Hải, đảo Hòn Dấu); vùng biển ven bờ các tỉnh từ Quảng Ninh - Hưng Yên.

Ngày 03/7, phía Tây khu vực Bắc Biển Đông (bao gồm vùng biển phía Bắc đặc khu Hoàng Sa): gió mạnh cấp 6-7, vùng gần tâm bão đi qua cấp 8, giật cấp 10; biển động rất mạnh; độ cao sóng 2,0-4,0m, vùng gần tâm bão 3,0-5,0m. Từ Nam Quảng Trị đến Vĩnh Long, phía Bắc khu vực Giữa Biển Đông và vùng biển phía Tây khu vực Nam Biển Đông (bao gồm vùng biển phía Tây đặc khu Trường Sa) có gió Tây Nam mạnh cấp 6, giật cấp 7-8; biển động. Độ cao sóng 2,0-3,0m.

2. Tình hình mưa

- Mưa ngày (19h/01/6-19h/02/7): Các khu vực trên cả nước có mưa vừa, mưa to, có nơi mưa rất to, lượng mưa phổ biến từ 50-100mm; một số trạm có lượng mưa lớn hơn như: Vân Đình (Hà Nội) 141mm; Suối Hai (Hà Nội) 120mm; Hòa Sơn (Phú Thọ) 134mm; Hoàng Khai (Tuyên Quang) 94mm; Mỹ Lâm (Tuyên Quang) 89mm; X-DT6 (Đồng Nai) 142mm.

- Mưa đêm (19h/02/7-07h/03/7): Các khu vực trên cả nước có mưa phổ biến từ 30-70mm; một số trạm có lượng mưa lớn hơn như: Thạch Ngàn (Nghệ An) 101mm; Trà Leng (Đà Nẵng) 99mm; Ia Dom (Quảng Ngãi) 135mm; Ia Tơi (Quảng Ngãi) 118mm; Thủy điện Sê San 3 (Gia Lai) 94mm.

- Mưa 3 ngày (19h/29/6-07h/03/7): Khu vực Bắc Bộ có mưa vừa, mưa to, tổng lượng mưa phổ biến từ 150-250mm, một số trạm có tổng lượng mưa lớn như: Xuân Minh 2 (Tuyên Quang) 435mm; Xuân Giang 1 (Tuyên Quang) 524mm; Chấn Thịnh (Lào Cai) 400mm; Khánh Thiện (Lào Cai) 448mm; Mỹ Lương (Phú Thọ) 275mm.

Dự báo:

Từ đêm 03/7 đến hết ngày 05/7, ở khu vực phía Đông Bắc Bộ và Thanh Hóa có khả năng xảy ra một đợt mưa lớn diện rộng với tổng lượng mưa phổ biến trong khoảng 100-200mm, riêng Đông Bắc Bắc Bộ 150-250mm, cục bộ có nơi trên 350mm.

II. TÌNH HÌNH TÀU THUYỀN, NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

1. Tình hình tàu thuyền:

- Theo báo cáo của Ban Chỉ huy PTDS, PCTT&TKCN Bộ đội Biên phòng, tính đến 6h00 ngày 03/7/2026, đã thông báo, kiểm đếm, hướng dẫn cho 56.240 phương tiện/249.184 người biết diễn biến, hướng đi của bão để chủ động di chuyển vòng tránh, thoát khỏi khu vực nguy hiểm. Các phương tiện nằm trong vùng ảnh hưởng đã nhận được thông tin cảnh báo và đang di chuyển vòng tránh.

- Sự cố tàu thuyền: Theo thông tin từ Chi cục Thủy lợi tỉnh Quảng Ninh, khoảng 03h00 ngày 3/7, tàu cá QN-90568-TS/07 người bị đắm tại tọa độ 20049’N, 107048’E; chính quyền địa phương đã huy động lực lượng, phương tiện cứu vớt được 05 người, đang tiếp tục tìm kiếm 02 người còn mất tích.

2. Nuôi trồng thủy sản:

Theo báo cáo của Cục Thuỷ sản và Kiểm ngư, tổng diện tích nuôi thủy sản tại các tỉnh ven biển từ Quảng Ninh đến Thanh Hóa là 140.711 ha (22.643 ha nuôi tôm nước lợ, 13.060 ha nuôi nhuyễn thể, 105.008 ha nuôi thủy sản nước ngọt); 29.066 lồng bè; 3.251 chòi canh nuôi trồng thủy sản có nguy cơ bị ảnh hưởng của bão và mưa lũ[1].

III. TÌNH HÌNH THỦY VĂN

1. Các sông khu vực Bắc Bộ: Mực nước lúc 07h00 ngày 03/7 trên sông Hồng tại trạm Hà Nội là 4,44m; sông Thái Bình tại trạm Phả Lại là 1,86m. Dự báo mực nước hạ lưu sông Hồng tại trạm Hà Nội, trên sông Thái Bình tại trạm Phả Lại dao động theo điều tiết của hồ chứa và ảnh hưởng của thủy triều.

2. Các sông khu vực Trung Bộ: Mực nước các sông biến đổi chậm theo điều tiết hồ chứa và ảnh hưởng của thủy triều.

3. Các sông khu vực Nam Bộ: Mực nước đầu nguồn sông Cửu Long dao động theo triều. Đến ngày 06/7, mực nước cao nhất ngày trên sông Tiền tại trạm Tân Châu ở mức 1,30m; trên sông Hậu tại trạm Châu Đốc ở mức 1,35m.

IV. TÌNH HÌNH HỒ CHỨA, ĐÊ ĐIỀU

1. Liên hồ chứa trên lưu vực sông Hồng:

Tên hồ

Thời gian

Htl (m)

Hhl (m)

Qvào (m3/s)

Qra (m3/s)

HCNTL(m)

(từ 15/6 ÷ 19/7)

Sơn La

7h

02/7

195,24

118,17

2.964

3.257

200

03/7

194,81

118,06

2.391

3.224

Hòa Bình

7h

02/7

101,56

12,12

3.911

2.922

105

03/7

101,91

12,23

2.921

2.914

Tuyên Quang

7h

02/7

108,66

52,09

1.892

1.227

105,2

03/7

109,18

52,10

1.392

1.223

Thác Bà

7h

02/7

50,30

21,80

946

0

56

03/7

50,72

21,71

578

0

Hồ Tuyên Quang mở 01 cửa xả đáy từ 16h00’ ngày 01/7/2026 theo Công điện số 7056/CĐ-BNNMT của Bộ Nông nghiệp và Môi Trường.

2. Các hồ chứa thủy lợi và thủy điện khác

- Các hồ chứa thủy điện khu vực Bắc Bộ có 16 hồ chứa vận hành điều tiết qua tràn với lưu lượng từ 100 m3/s trở lên, cụ thể lưu lượng xả tràn/lưu lượng về hồ (m3/s) Bắc Hà: 102/283; Bắc Mê: 512/854; Bảo Lâm 3: 158/278; Nho Quế 2: 144/233; Nho Quế 3: 128/225; Phúc Long: 141/404; Sông Lô 4: 315/519; Sông Lô 5: 133/630; Sông Lô 7: 288/980; Sông Lô 8B: 678/1371; Sông Miện 5: 256/337; Sông Miện 5A: 319/387; Sông Miện 6: 239/301; Thái An: 199/252; Thuận Hòa: 133/222; Vĩnh Hà: 255/433.

- Các hồ chứa thủy lợi khu vực Bắc Bộ có 2.495 hồ chứa; hiện đạt 55-89% dung tích thiết kế; 03 hồ (Đầm Hà Động xả 14m3/s, Quất Đông xả 5 m3/s, Suối Cấy xả 6 m3/s ).

3. Tình hình đê điều

- Các tuyến đê biển từ Quảng Ninh đến Nghệ An hiện được thiết kế chống bão cấp 9-10, triều 5%; còn tồn tại 31 vị trí trọng điểm đê điều xung yếu (Quảng Ninh: 02, Hưng Yên: 11, Hải Phòng 04, Ninh Bình: 13, Thanh Hóa: 01).

- Trên các tuyến đê biển, đê cửa sông từ Quảng Ninh đến Nghệ An có 05 công trình đê, cống qua đê đang thi công dở dang trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.

Các địa phương cần lưu ý gia cố, đảm bảo an toàn đối với các vị trí trọng điểm đê điều xung yếu, tuyến đê trực diện biển, cao trình đê thấp như: Đoạn K10-K15 đê Hà Nam trực diện biển, bãi hẹp (tỉnh Quảng Ninh); đê kè Đông Minh đê biển 6 (tỉnh Hưng Yên); đê biển Cồn Tròn, Hải Thịnh (tỉnh Ninh Bình); đê biển Hải Bình (huyện Tĩnh Gia cũ, tỉnh Thanh Hóa)… và các công trình đang thi công dở dang.

V. CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO, ỨNG PHÓ

- Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia đã ban hành Công điện số 26/BCĐ-BNNMT ngày 01/7/2026 và văn bản số 25/BCĐ-BNNMT ngày 30/6/2026 chỉ đạo ứng phó với vùng áp thấp và áp thấp nhiệt đới trên biển Đông có khả năng mạnh lên thành bão[2], Công văn số 24/BCĐ-BNNMT ngày 27/6/2026 về việc chủ động ứng phó với mưa lớn, lũ, ngập lụt, lũ quét, sạt lở đất, lốc, sét, mưa đá.

- Ngày 01/7/2026, các Bộ: Quốc phòng, Công an, Xây dựng đã ban hành công điện về việc ứng phó với áp thấp nhiệt đới trên Biển Đông.

- Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã có văn bản số 7135/BNNMT-ĐĐ ngày 02/7/2026 gửi Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố có đê từ cấp III đến cấp đặc biệt đề nghị khẩn trương hoàn thành việc thi công xây dựng các cống qua đê và các công trình liên quan đến an toàn đê điều, thoát lũ.

- Phối hợp với Ban quản trị Zalo gửi tin nhắn hướng dẫn an toàn tàu thuyền và chủ động ứng phó với ATNĐ có thể mạnh lên thành bão tới 5,1 triệu người dân thuộc các xã, phường, đặc khu ven biển từ tỉnh Quảng Ninh đến Khánh Hòa.

- Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai tổ chức trực ban nghiêm túc 24/24h, theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết, thiên tai, đê điều; chuyển các thông tin dự báo, cảnh báo đến các địa phương để kịp thời tham mưu công tác chỉ đạo, điều hành, ứng phó thiên tai.

- Các địa phương tổ chức trực ban; chủ động theo dõi thời tiết, thông tin dự báo, cảnh báo và triển khai các biện pháp ứng phó./.

[1] Quảng Ninh: 36.674ha và 11.600 ô lồng, 105 chòi canh; Hải Phòng: 23.650ha, 10.600 hô lồng; Hưng Yên: 25.922ha, 1.312 ô lồng, 1.025 chòi canh; Ninh Bình: 35.265ha, 1.635 ô lồng, 1.870 chòi canh; Thanh Hóa: 19.200ha, 3.919 ô lồng, 251 chòi canh.

[2] 14/14 tỉnh/thành phố đã có văn bản, công điện triển khai: Quảng Ninh, Hải Phòng, Hưng Yên, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa.

Tải file đính kèm Tại đây!